• 検索結果がありません。

Chương 3. TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN SỬ

3.6. Tiểu kết

Ca dao Nam Bộ thường có những cách nói rất giản dị, chân tình, ít dùng những từ ngữ hoa mỹ, không nói những từ ngữ chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, mà chỉ nói một cách mộc mạc, bình dân, cốt sao bày tỏ được lòng mình, nói sao cho hết cái ý nghĩ đang cháy bỏng trong lòng mình. Do đó, đôi chỗ nó làm cho ca dao Nam Bộ thiếu đi cái vẻ trang trọng về hình thức và sâu sắc về nội dung.

Chính vì lẽ trên có thể nói rằng, sự xuất hiện nhiều của từ ngữ Hán Việt dường như đã bù đắp được khiếm khuyết về hình thức và nội dung trong cách biểu đạt của ca dao Nam Bộ. Cái hay, cái độc đáo của việc sử dụng từ ngữ Hán Việt

trong ca dao Nam Bộ chính là ở giá trị biểu đạt: từ ngữ Hán Việt được dùng đúng lúc, đúng chỗ đã làm cho ca dao Nam Bộ có thêm vẻ trang trọng về hình thức và sâu sắc về nội dung. Từ ngữ Hán Việt còn có chức năng làm dẫn ngữ, dẫn nhập vào nội dung bài ca dao, hay từ ngữ Hán Việt trong nhiều trường hợp có chức năng chính trong việc tạo nội dung ngữ nghĩa cho bài ca dao. Ngoài ra, từ ngữ Hán Việt cũng góp phần làm tăng tính khái quát và trừu tượng về ngữ nghĩa cho ca dao Nam Bộ. Từ ngữ Hán Việt không chỉ góp phần vào việc gieo vần, tạo nhịp mà còn làm tăng tính hàm súc, tính thuyết phục trong cách diễn đạt.

KẾT LUẬN

Người Nam Bộ chuộng cách nói thẳng, nói thật nên đã mang vào trong ca dao lời ăn tiếng nói hằng ngày của mình. Vì thế, ngôn ngữ ca dao Nam Bộ có cách dùng từ ngữ mộc mạc, gần gũi với cuộc sống thường ngày chứ ít dụng công gọt giũa cho bóng bảy, êm ái.

Từ đó có thể khẳng định rằng: sự xuất hiện của lớp từ ngữ Hán Việt đã làm cho ca dao Nam Bộ có thêm sắc thái trang trọng, tao nhã, khái quát – trừu tượng và hàm súc. Ca dao Nam Bộ không chỉ sử dụng từ ngữ Hán Việt mà còn sử dụng nhiều hơn ca dao Nam Trung Bộ và ca dao Việt Nam (như chúng tôi đã khảo sát). Ca dao Nam Bộ cũng dùng từ ngữ Hán Việt nhiều hơn ca dao xứ Bắc, xứ Nghệ (theo khảo sát của Nguyễn Phương Châm), mà những vùng này vốn là những vùng đất cổ, có tuổi đời mấy ngàn năm so với tuổi đời mấy trăm năm của đất Nam Bộ.

Chủ thể sáng tạo ca dao người Việt Nam Bộ cũng giống như ca dao cả nước, chủ yếu là tầng lớp bình dân, mà thành phần khá đa dạng, không chỉ có nông dân, thợ thủ công, mà còn có những ông đồ, những người đã qua cửa Khổng sân Trình, những ông quan đã cáo quan về ở ẩn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính đã nhận xét xác đáng: “Bên cạnh người nông dân, người thợ thủ công, nhà nho có vai trò đáng kể trong việc sáng tác lưu truyền và ghi chép văn học dân gian...” (dẫn theo Nguyễn Phương Châm [9]). Đội ngũ được gọi chung là nhà Nho ấy sống cùng với đông đảo người dân lao động, tham gia vào hầu hết các sinh hoạt văn hóa ở địa phương trong đó có việc sáng tác ca dao. Cái chất nho học ở họ dần dần được dân chúng tiếp nhận và hình thành vốn văn hóa chung một cách tự nhiên. Người nông dân có thể không biết chữ Hán song họ vẫn có thể hiểu được những câu thông thường nguyên nghĩa Hán và vận dụng chúng một cách tài tình trong những câu nói cửa miệng.

Ca dao Nam Bộ sử dụng nhiều điển cố, điển tích Hán và từ ngữ Hán Việt hơn ca dao các vùng khác trong cả nước được Nguyễn Xuân Kính cho rằng là một

“nghịch lý”. Bởi lẽ, Nam Bộ là vùng đất mới, truyền thống Nho học ở đây có muộn hơn và kết thúc sớm hơn ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Sở dĩ ca dao Nam Bộ sử dụng

nhiều từ ngữ Hán Việt và điển tích Hán là do thành phần sáng tác đa dạng, trong đó có những người am tường Hán học. Đó còn là do sự cộng cư giữa người Việt và người Hoa trên đất Nam Bộ. Người Nam Bộ tiến hành vào buổi ban đầu sử dụng chữ quốc ngữ dịch các tác phẩm văn học lịch sử Hán ra tiếng Việt nên từ ngữ Hán Việt và điển cố điển tích Hán cũng theo đó mà xuất hiện ở Nam Bộ. Lý do quan trọng hơn hết là do người dân Nam Bộ là những người phóng khoáng dễ tiếp thu cái mới, điều này hình thành nên tâm lý, ý thức của người Nam Bộ trong việc tiếp nhận cái mới.

Qua việc nghiên cứu từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy rằng ca dao Nam Bộ có những đặc điểm về ngữ âm, cấu tạo – ngữ pháp, ngữ nghĩa và giá trị sử dụng như:

Về ngữ âm, từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ xuất hiện ở ba dạng: từ ngữ Hán Việt có âm đọc toàn dân, từ ngữ Hán Việt có âm đọc phương ngữ hóa và từ ngữ Hán Việt có hai âm đọc Hán Việt song song cùng tồn tại. Ca dao Nam Bộ có nhiều hiện tượng phát âm địa phương, từ đó tạo nên những biến thể ngữ âm đa dạng trong lời nói của người dân nơi đây. Điều độc đáo là người Nam Bộ không chỉ phát âm địa phương các từ ngữ thuần Việt: rít (rết), chưn (chân), ghình (ghềnh), đờn (đàn), trển (ở trên đó), chỉ (chị), chun (chui) v.v…, mà các từ ngữ Hán Việt cũng được nói theo ngữ âm địa phương: ngãi/ ngỡi (nghĩa), nhơn (nhân), nhứt (nhất), nhựt (nhật), v.v… Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng chủ yếu: vì kiêng huý, thói quen nói sao viết vậy, hoặc đơn thuần chỉ hiệp vần cho thơ.

Về cấu tạo – ngữ pháp, từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ được phân thành hai loại: từ và ngữ cố định. Từ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ tồn tại ở ba dạng: từ đơn, từ ghép và từ láy. Từ ghép được sử dụng nhiều nhất, ít nhất là từ láy.

Vì từ láy xuất hiện ít, thêm vào đó đây là vấn đề còn để ngỏ nên luận văn không bàn luận đến. Nhìn từ tiêu chí hoạt động ngữ pháp, từ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ được sử dụng chủ yếu là từ loại danh từ, kế đến là động từ và tính từ. Ngữ cố định Hán Việt trong ca dao Nam Bộ có hai dạng là ngữ định danh và thành ngữ Hán Việt, trong đó, thành ngữ chiếm số lượng nhiều hơn ngữ định danh.

Về ngữ nghĩa, Từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ thuộc các phạm trù nghĩa biểu hiện chủ yếu như: từ ngữ Hán Việt chỉ tình yêu quê hương đất nước, từ ngữ Hán Việt chỉ tình yêu nam nữ, từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm gia đình và từ ngữ Hán Việt chỉ quan niệm về thế giới, về đạo đức, về cuộc sống, về con người của người Nam Bộ. Trong các phạm trù nghĩa biểu hiện vừa nêu, nổi bật nhất là những từ ngữ chỉ quan hệ gia đình và đạo làm người trong ca dao Nam Bộ. Ca dao Nam Bộ nói nhiều đến quan hệ đạo nghĩa là để chống lại cái xấu, những điều khiến người ta dễ bị sa ngã. Điều đó còn có giá trị to lớn trong việc truyền thụ tư tưởng, đạo đức, lối sống, thuần phong mĩ tục cho các thế hệ mai sau định cư trên mảnh đấy Nam Bộ.

Về mặt sử dụng, từ ngữ Hán Việt được sử dụng linh hoạt trong các câu ca dao đã đem lại hiệu quả nghệ thuật nhất định cho ca dao Nam Bộ. Từ ngữ Hán Việt không chỉ tạo ra sự đa dạng trong cách biểu đạt mà còn góp phần tạo sắc thái trang trọng, trang nhã cho ca dao Nam Bộ. Một trong những đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ Hán Việt là tính khái quát, trừu tượng cao. Tác giả dân gian đã vận dụng đặc điểm này của từ ngữ Hán Việt dùng để biểu đạt những khái niệm, những quan niệm về cuộc sống, quan hệ xã hội, quan hệ gia đình… Từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong ca dao Nam Bộ còn nhằm mục đích làm tăng tính hàm súc, tính thuyết phục cho bài ca dao. Ngoài ra, từ ngữ Hán Việt còn có chức năng làm dẫn ngữ, dẫn nhập vào nội dung chính của bài ca dao, làm tăng tính biểu cảm, tính hình tượng trong cách diễn đạt. Một số trường hợp từ ngữ Hán Việt đảm nhận chức năng chính trong việc biểu đạt nội dung ngữ nghĩa của bài ca dao. Bên cạnh đó, từ ngữ Hán Việt còn có tác dụng gieo vần, tạo nhịp, làm nên âm hưởng êm ái, mượt mà cho bài ca dao.

Nhìn chung, từ ngữ Hán Việt được dùng đúng lúc, đúng chỗ đã tạo cho ca dao Nam Bộ có sắc thái trang trọng, tao nhã, làm tăng tính hàm súc, tính thuyết phục cho ca dao Nam Bộ.

Bên cạnh những ưu điểm không thể phủ nhận, từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong ca dao Nam Bộ còn có một số hạn chế: dùng từ ngữ tối nghĩa, khó hiểu và nhiều trường hợp vận dụng chưa thật hợp lý.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa Thông tin.

2. Nguyễn Văn Bảo (1998), Thành ngữ cách ngôn gốc Hán, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Nguyễn Văn Bảo (2008), Từ và ngữ Hán Việt, Nxb Văn học.

4. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

5. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

6. Nguyễn Tài Cẩn (2003), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Trần Văn Chánh (2005), Ngữ pháp Hán ngữ cổ và hiện đại, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh.

8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

9. Nguyễn Phương Châm (2001), Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 6, tr.54-57 & tr.84.

10. Nguyễn Hữu Chỉnh (2010), Hiện tượng “ổng ảnh” trong tiếng Nam Bộ, Ngôn ngữ, số 12, tr.10 – 19.

11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1990), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

12. Hoàng Dân, Nguyễn Văn Bảo, Trịnh Ngọc Ánh (1997), Mở rộng vốn từ Hán Việt (Dùng trong nhà trường), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

13. Nguyễn Nghĩa Dân (2000), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Thanh niên.

14. Nguyễn Văn Diệu (1984), Góp phần tìm hiểu ca dao, dân ca chống Mĩ Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Văn học, số 3, tr.54-66.

15. Trần Trí Dõi (2011), Giáo trình Lịch sử tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam.

16. Trần Trí Dõi (2011), Khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai từ góc nhìn của lịch sử tiếng Việt hiện nay, Ngôn ngữ, số 11, tr.8 - 15.

17. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội.

18. Ninh Viết Giao (1999), “Nghệ nhân dân gian trong lòng làng hát ví ở Nghệ Tĩnh”, tr.317-332, Tuyển tập 40 năm Tạp chí văn học 1960 – 1999, (Tập 1), Văn học dân gian, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

19. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

20. Nguyễn Thạch Giang (2003), Tiếng Việt trong thư tịch Việt Nam cổ, Nxb Khoa học xã hội.

21. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

22. Phạm Ngọc Hàm (2008), chữ 人nhân và quan niệm về con người của dân tộc Hán, Ngôn ngữ, số 9, tr.71-76.

23. Phạm Ngọc Hàm (2011), Chữ Hán với tín ngưỡng dân gian của người xưa, Ngôn ngữ, số 9, tr.58 – 64.

24. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt - văn Việt - người Việt, Nxb Trẻ.

25. Nguyễn Văn Hầu (2004), Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ (tập 1 & 2), Nxb Trẻ.

26. Lê Anh Hiền (tuyển chọn) (1981), Một số bài viết về sự vận dụng tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

27. Trần Đức Hùng (2011), Các từ đa tiết phương ngữ Nam Bộ trong ca dao, dân ca, Ngôn ngữ & đời sống, số 8, tr.32 – 37.

28. Hội Khoa học Lịch sử Tp. Hồ Chí Minh (2004), Nam Bộ đất và người (tập II), Nxb Trẻ.

29. Diên Hương (1992), Thành ngữ điển tích, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.

30. Bửu Kế (2009), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa (tái bản lần thứ nhất).

31. Nguyễn Xuân Kính (2007), Ảnh hưởng của văn học chữ Hán Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt, Nguồn: vienvanhoc. org. vn.

32. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

33. Nguyễn Văn Khang (2010), Đối chiếu Hán - Việt: Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn, Ngôn ngữ & đời sống, số 10, tr.1 - 11.

34. Đinh Gia Khánh (chủ Biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục.

35. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2001), Điển cố văn học, Nxb Văn học.

36. Lê Đình Khẩn (2002), Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

37. Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ (1999), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục.

38. Phạm Xuân Khoái (2001), Một số vấn đề chữ Hán thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

39. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội.

40. Mã Giang Lân, Lê Chí Quế (1977), Tục ngữ – ca dao – dân ca Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

41. Nguyễn Lộc (1997), “Văn hóa Trung Hoa và ca dao, dân ca Việt Nam”, tr.550-560, Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học 1960 – 1999, (Tập 1), Văn học dân gian, Nxb Tp. Hồ Chí Minh 1999.

42. Nguyễn Thị Lương (2011), Vấn đề dạy từ Hán Việt cho học sinh trung học phổ thông, Ngôn ngữ & đời sống, số 6, tr.5 – 9.

43. Đoàn Xuân Mỹ (1997), Ca dao Nam Bộ, một cái nhìn gần, Tạp chí Văn học, số 4, tr.43-46.

44. Trần Văn Nam (1999), Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ địa danh trong ca dao Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, tr.49-53.

45. Trần Văn Nam (2003), Điển tích trong ca dao Nam Bộ: Tiếp nhận và cách tân, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6, tr.22-26.

46. Trần Văn Nam (2008), Cảm nhận ca dao Nam Bộ, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.

47. Sơn Nam (2004), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Biên khảo Sơn Nam, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh.

48. Phan Ngọc (2009), Mẹo giải nghĩa từ Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội.

49. Phan Ngọc (2009), Mẹo chữa lỗi chính tả, Nxb Khoa học xã hội.

50. Vũ Văn Ngọc (chủ biên) (2011), Nam Bộ nhìn từ văn hóa, văn học và ngôn ngữ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

51. Lữ Huy Nguyên, Đặng Văn Lung, Trần Thị An (2005), Ca dao trữ tình chọn lọc (dùng trong nhà trường), Nxb Hội Nhà văn.

52. Hoàng Phê (chủ biên) (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng.

53. Nguyễn Ngọc San (2003), Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử (tái bản), Nxb Đại học Sư phạm.

54. Trịnh Sâm (1986), “Phương ngữ và ca dao dân ca địa phương (Trên cứ liệu của phương ngữ và ca dao dân ca các tỉnh phía Nam)”, tr.422-432, Tuyển tập 40 năm Tạp chí văn học 1960 – 1999, (Tập 1), Văn học dân gian, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

55. Trịnh Sâm (2001), Đi tìm bản sắc tiếng Việt, Nxb Trẻ.

56. Đặng Đức Siêu (2006), Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục.

57. Nguyễn Thị Tân (2003), Nhận diện thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 12, tr.16-25.

58. Nguyễn Thị Tân (2004), Các dạng thức tồn tại của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 10, tr.24-33.

59. Nguyễn Thị Tân (2005), Đặc điểm của thành ngữ gốc Hán xét từ bình diện hình thái cấu trúc, Ngôn ngữ, số 6, tr.1-12.

60. Nguyễn Thị Tân (2005), Thành ngữ gốc Hán nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, Ngôn ngữ, số 12, tr.1-12.

61. Nguyễn Thị Tân (2006), Đặc điểm sử dụng thành ngữ gốc Hán trong một số thể loại văn bản tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 12, tr.15-22.

62. Bùi Đức Tịnh (2003), Ngữ pháp Việt Nam giản dị và thực dụng, Nxb Văn hóa thông tin.

63. Lê Xuân Thại (2005), Từ Hán Việt và việc giảng dạy từ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở, Nxb Giáo dục.

64. Bùi Quang Thanh (1986), Ca dao dân ca Nam Bộ, Tạp chí Văn học, số 3, tr.146-148.

65. La Văn Thanh (2010), Vấn đề cần lưu ý khi giảng dạy từ Hán Việt, Ngôn ngữ

& đời sống, số 11, tr.5 – 11.

66. La Văn Thanh (2011), Một vài nhận xét về tổ hợp song tiết Hán Việt Việt tạo trong tiếng Việt hiện đại, Ngôn ngữ, số 7, tr.41 – 48.

67. Ngô Đức Thọ (1997), Nghiên cứu chữ húy qua các triều đại Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

68. Nguyễn Đức Tồn (2001), Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường (phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

69. Nguyễn Đức Tồn (2001), Cách nhận diện và phân phân biệt từ thuần Việt với từ Hán – Việt, Ngôn ngữ, số 2, tr.45-50.

70. Nguyễn Đức Tồn (2010), Đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2010.

71. Nguyễn Văn Tu (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

72. Tủ sách kiến thức phổ thông (2000), Ca dao Việt Nam những lời bình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

73. Trầm Thanh Tuấn (2011), Nghệ thuật sử dụng điển cố trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, Ngôn ngữ & đời sống, số 7, tr.32 – 38.

74. Hồ Xuân Tuyên (2012), Về một số từ Hán Việt hay bị phê phán dùng sai, Ngôn ngữ & đời sống, số 1 + 2, tr.8 – 12.

75. Huỳnh Ngọc Trảng (2006), Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh, Nxb Tổng hợp Đồng Nai – Phân viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật tại Tp. Hồ Chí Minh.

76. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

77. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1997), Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán, Nxb Văn hóa Thông tin.

TÀI LIỆU KHẢO SÁT

1. Ca dao dân ca Nam Bộ (1984), Bảo Định Giang - Nguyễn Tấn Phát - Trần Tấn Vĩnh - Bùi Mạnh Nhị, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

2. Ca dao Nam Trung Bộ (1999), Thạch Phương – Ngô Quang Hiển, Nxb Khoa học xã hội.

3. Ca dao Việt Nam(2007), Ngọc Quang, Nxb Văn hóa – Thông tin.