Chương 3. TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN SỬ
3.4. Giá trị sử dụng của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ
3.4.4. Từ ngữ Hán Việt làm tăng tính hàm súc cho ca dao Nam Bộ
Hàm súc là hình thức diễn đạt cô đọng, ngắn gọn với một lượng ngôn từ hạn hẹp nhưng chứa đựng bên trong nhiều ý nghĩa sâu sắc. Tính hàm súc trong ca dao còn thể hiện ở dung lượng lớn những ý nghĩ, tình cảm mà chủ thể không nói ra, nhưng người tiếp nhận có thể tự mình suy ra được. Ở đây, tính hàm súc của văn chương là sự súc tích cô đọng, là lời chật, ý rộng, lời đã hết mà ý vô cùng, để lại nhiều dư vị trong lòng đối tượng tiếp nhận.
Trong ca dao Nam Bộ, tính hàm súc của từ ngữ Hán Việt thể hiện ở hai nội dung nổi bật nhất là: tình yêu nam nữ và quan niệm về đạo nghĩa.
* Đề tài về tình yêu đôi lứa và khát vọng tình cảm luôn luôn là đề tài lớn nhất, phong phú và đa dạng nhất trong thơ ca nói chung và trong ca dao Nam Bộ nói riêng. Để diễn đạt nội dung này, ca dao Nam Bộ đã sử dụng rất nhiều từ ngữ Hán Việt nhằm góp phần khắc họa thêm những cung bậc tình cảm của tình yêu đôi lứa và làm tăng tính hàm súc trong cách thể hiện. Từ ngữ Hán Việt làm tăng tính hàm súc cho ca dao Nam Bộ trong quan hệ tình yêu nam nữ ở những lời tỏ tình, những lời giận hờn, trách móc và những lời thề nguyền, ước hẹn thủy chung.
a. Những lời tỏ tình
Bên cạnh những lời tỏ tình mộc mạc, giản dị, ca dao Nam Bộ còn có những lời tỏ tình thâm trầm, sâu lắng, ý vị và trang trọng. Chính từ ngữ Hán Việt đóng vai trò chủ yếu trong việc tạo ra những sắc thái ngữ nghĩa này:
Bâng khuâng bát ngát câu hát hữu tình, Căn duyên tiền định, hai đứa mình gặp nhau.
Cái thi vị của lời tỏ tình chính là ở từ hữu tình và ngữ căn duyên tiền định. Căn duyên là mối dây ràng buộc được định bởi cái nghiệp của mỗi người. Tiền định: sắp đặt sẵn từ trước. Căn duyên tiền định là duyên có gốc rễ và đã được sắp đặt từ kiếp trước. Căn duyên tiền định còn là thuyết số mệnh theo đó mọi sự đều được an bài sẵn.
Có thể coi từ ngữ Hán Việt hữu tình và căn duyên tiền địnhlà điểm nhấn, là nhãn tự trong bài ca dao. Tính hàm súc của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ thể hiện ở sự không thể chuyển dịch ra từ ngữ thuần Việt đẳng nghĩa. Từ hữu tình phải diễn giải thành một ngữ tự do: có tình cảm (với nhau); ngữ cố định căn duyên tiền định cũng phải diễn giải thành một ngữ tự do, thậm chí là câu, tùy theo cách chuyển dịch của mỗi người: duyên có gốc rễ và đã được sắp đặt từ kiếp trước. Từ ngữ Hán Việt trong bài ca dao đã đáp ứng nhu cầu về mặt thi pháp thơ ca: lời ít ý nhiều, ý tại ngôn ngoại, tạo sự hàm súc cho bài ca dao.
Còn đây là lời tỏ tình rất thông minh của chàng trai:
Dạo chơi quán Sở, lầu Tề, Hữu duyên thiên lý ngộ, ai dè gặp em.
Thành ngữ Hán Việt hữu duyên thiên lý ngộ vốn nguyên từ câu: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng, nghĩa là có duyên thì nghìn dặm xa cũng năng gặp nhau, vô duyên (với nhau) thì dù có đối diện nhau cũng coi là không gặp [77; tr.65].
Thành ngữ cải biên hữu duyên thiên lý ngộ tuy đã được rút gọn nhưng đối tượng tiếp nhận vẫn hiểu ý nghĩa vốn có của nó nhờ tiền giả định, nên giá trị truyền tải nghĩa không bị giảm sút. Ở câu đầu của bài ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng điển tích Sở, Tề biểu trưng cho sự xa cách để nói nên cái duyên kỳ ngộ của chàng trai đối với cô gái: dạo chơi ở những nơi xa xôi cách trở như vậy mà ai dè cũng gặp em, thật là hữu duyên thiên lý ngộ. Đó là một lời tỏ tình rất khôn khéo và điệu nghệ.
Qua sự phân tích trên có thể thấy rằng, từ ngữ Hán Việt được dùng đúng lúc, đúng chỗ trong ca dao Nam Bộ làm cho lời tỏ tình mượt mà hơn, đằm thắm hơn và tạo ra hiệu quả giao tiếp cao hơn.
b. Những lời giận hờn, trách móc
Trong thực tế, nội dung liên quan đến hành động giận hờn, trách móc là rất đa dạng, nhưng thường thiên về sự tổn thất về tình cảm lẫn tổn thất về vật chất. Tuy vậy, trong ca dao Nam Bộ, nội dung của hành động giận hờn, trách móc đối với người nói thường là tổn thất về tình cảm. Người gánh chịu hậu quả tổn thất là người
nói, ngôi thứ nhất, còn vai gây ra sự tổn thất lại có nhiều đối tượng khác nhau. Các nội dung trong hành động trách cũng khá đa dạng, tuy nhiên, có thể quy về các nội dung sau: nữ trách nam phụ tình, bạc tình, trách vụng suy tính, trách sự lường gạt trong tình yêu; nam trách nữ; tự trách mình; trách các tác nhân gây trở ngại khác v.v… Do khuôn khổ luận văn có giới hạn, chúng tôi không chia những lời giận hờn, trách móc một cách chi tiết như vậy mà chỉ phân tích một số bài tiêu biểu để thấy được giá trị hàm súc của từ ngữ Hán Việt.
Giận hờn, trách móc cũng là một trong những cung bậc tình cảm của tình yêu đôi lứa. Xu hướng chung của những bài ca dao sử dụng những từ ngữ thuần Việt là đều gợi ra cái được biểu đạt một cách sinh động, cụ thể. Trái lại, xu hướng của những bài ca dao có sử dụng từ ngữ Hán Việt lại không gợi ra hình ảnh cụ thể, sinh động như vậy. Cái hình ảnh của sự vật dường như chìm vào trong, ẩn vào trong, ta phải giải thích, liên tưởng mới có thể thấy được.
Trong ca dao Nam Bộ, những từ ngữ Hán Việt vì vậy đã làm cho những lời trách móc người yêu trở nên ý vị hơn, sâu sắc hơn, không lộ liễu nhưng lại bộc lộ niềm nuối tiếc, xót xa cho sự nhầm lẫn của người yêu:
Bình tích thủy đựng bông hoa lý Chén chung vàng đựng nhụy bông ngâu
Trách ai làm trai hữu nhãn vô châu
Chim oanh không bắn bắn con chim sâu đậu nhành tùng.
Hàm ý của bài ca dao đặt ở ngữ hữu nhãn vô châu, nghĩa đen là có mắt mà không có con ngươi, ý nói người con trai không phân biệt được người tốt kẻ xấu.
Ca dao Nam Bộ còn trách kẻ bạc tình, không chung thủy:
Trách lòng quân tử bạc tình, Gieo neo cho thiếp một mình biển Đông.
Quân tử trong bài ca dao là ai? Theo Bửu Kế, quân tử có bốn nghĩa: (1) Người có tài đức. Khúc Lễ trong Kinh Lễ viết: “Bác văn cường thức nhi nhượng, đôn thiện hạnh nhi bất đãi vị chi quân tử” (Biết rộng hiểu nhiều mà khiêm cung, đôn đốc nết thiện không ngừng ấy là quân tử). (2) Người có địa vị. Thiên Nhan
Uyên trong Luận Ngữ: “Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo” (Địa vị của người quân tử như gió, địa vị kẻ tiểu nhân như cỏ). (3) Vợ gọi chồng. Thiên Chu Nam trong Kinh Thi: “Vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung” (Chưa thấy chồng, lo lắng trong lòng). (4) Gọi cha đã mất (Cũng như Tiên nhân) [30; tr.1526]. Quân tử trong ca dao Nam Bộ là từ mà phụ nữ dùng để gọi tên người chồng, người yêu hoặc người đàn ông nói chung. Còn bạc tình là phụ tình, không giữ trọn mối tình, lòng dạ không chung thủy. Đây là lời trách móc của cô gái đối với chàng trai mà mình yêu thương.
Trong ca dao Nam Bộ, người phụ nữ còn tự than thở, trách móc cho duyên, phận của mình. Dưới chế độ cũ, người phụ nữ có khi không thể đạt được lòng mong muốn, ước nguyện của mình trong tình duyên nên đành trách duyên số, trách phận hèn. Phận là một khái niệm thường dùng trong Phật giáo đã trở thành triết lý để giải thích cho cuộc đời sướng khổ của người con gái, có khi dùng thân phận. Nhưng khi dùng phận, ca dao thường nghiêng về số phận không may mắn.
Trong ca dao, nhân vật nữ sử dụng hành động trách hướng đến nội dung phổ biến nhất là trách phận hèn, hoặc trách tại duyên phận, duyên số:
Trách hường nhan Vô duyên bạc phận
Duyên nợ gần không đặng xứng đôi.
Xưa nay, những phụ nữ có nhan sắc lại thường là những người bạc mệnh, người xưa thường nói hồng nhan bạc mệnh (hồng nhan bạc phận) hay hồng nhan đa truân. Hường nhan trong bài ca dao là biến âm của hồng nhan, hồngcó nghĩa là màu đỏ, còn nhan có nghĩa là vẻ mặt, dáng mặt; hồng nhan dùng để chỉ người phụ nữ đẹp. Vô duyên là không có được mối dây ràng buộc từ kiếp trước. Do đó, Vô duyên là không có duyên với nhau. Bạc phận có nghĩa là số phận gặp những điều chẳng may. Vì thế, cô gái trong bài ca dao đã trách cho cái sự hồng nhan nhưng vô duyên bạc phậncủa mình.
Từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ đã làm cho những lời trách móc trở nên nhẹ nhàng, ý vị, thâm trầm, sâu lắng hơn nhưng để lại dư âm trong lòng người.
Về mặt phong cách, từ ngữ Hán Việt đã làm cho lời trách móc không thô thiển, không cần phải đao to búa lớn, nhưng vẫn làm cho người nghe phải suy nghĩ, trăn trở bởi cái sắc thái tao nhã và tầng ý nghĩa hàm ẩn trong đó. Về mặt sử dụng, từ ngữ Hán Việt đáp ứng yêu cầu về hình thức diễn đạt: ngắn gọn, cô đọng nhưng chứa đựng bên trong nhiều ý sâu sắc.
c. Những lời thể nguyền, ước hẹn thủy chung
Chung thủy cũng là tiếng nói nổi bật trong ca dao Nam Bộ về đề tài tình yêu đôi lứa. Đó là tiếng nói đề cao, ngợi ca lòng thủy chung, lên án thói bạc tình, bạc nghĩa của loại người được chim bẻ ná, được cá quên nơm. Chung thủy vốn là đặc trưng của tình yêu Việt Nam, có khác chăng là do điều kiện, hoàn cảnh sống, do tâm lý và tính cách, mà con người của mỗi miền có cách thể hiện riêng. Ca dao Nam Bộ đã tô bồi thêm cho đức tính cao đẹp đó bằng thứ ngôn ngữ riêng, mộc mạc và dân dã.
Lòng chung thủy là điểm tựa của niềm tin, đồng thời là nguồn lực tăng thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Cũng nói về những lời thề nguyền, ước hẹn cho sự thủy chung của tình yêu đôi lứa, ca dao Nam Bộ có những bài sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt làm cho cùng một đề tài nhưng có những cách nói khác nhau với những sắc thái khác nhau, tạo sự phong phú trong cách biểu đạt. Đó là những từ ngữ như: chung tình, nghĩa chung tình, thủy chung, thủy chung như nhứt, bách niên giai ngẫu v.v…
Lời ước hẹn chung tình trăm năm cùng nhau, cho dù sông cạn đá mòn, cho dù trời đất gặp nhau nhưng tình yêu của họ vẫn không thay đổi:
Trăm năm ước hẹn chung tình, Trên trời dưới đất chỉ mình với ta.
Hay:
Anh đây lên thác xuống ghềnh, Đá mòn sông cạn quyết chung tình với em.
Từ chung tình có nghĩa là tình yêu dành cho một người duy nhất.
Hay đó còn là lời nguyện ước trước sau vẫn một lòng, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi, được thể hiện qua từ thủy chung:
Bậu đừng nghe tiếng thị phi,
Thủy chunganh giữ vẹn, trọn nghì sắt son.
Ca dao Nam Bộ còn sử dụng thành ngữ bách niên giai ngẫu, thủy chung như nhứtđể làm tăng giá trị biểu đạt cho lời nguyện ước:
- Ngọc trầm thủy thượng anh ơi, Bách niên giai ngẫu ở đời với em.
- Nước còn quyện cát làm doi, Huống chi ta chẳng tài bồi lấy nhau.
Tay cầm dĩa muối sàng rau, Thủy chung như nhứt sang giàu mặc ai.
Thành ngữ bách niên giai ngẫu là biến thể của bách niên giai lão có nghĩa là chung sống hòa hợp, hạnh phúc, trọn đời bên nhau. Thành ngữ này dùng trong ca dao Nam Bộ còn có nghĩa là một lời nguyện ước thầm chúc cho hai người (anh và em) sống bền chặt bên nhau suốt đời của chủ thể sáng tác ra bài ca dao này. Còn thủy chung như nhứtlà biến thể của thủy chung như nhất có nghĩa là trước sau như một, trong hoàn cảnh nào cũng không thay lòng đổi dạ.
Sự có mặt của những từ ngữ Hán Việt làm cho nội dung của bài ca dao trở nên cô đọng, súc tích hơn. Từ ngữ Hán Việt được sử dụng một cách đơn giản, dễ hiểu, và có thể nói nhiều bài đã đạt đến trình độ lời ít ý nhiều.
Bên cạnh những từ ngữ Hán Việt thể hiện sự hàm súc trong đề tài tình yêu nam nữ, ca dao Nam Bộ còn sử dụng từ ngữ Hán Việt thể hiện sự hàm súc trong quan niệm về đạo làm người.
* Đạo là đường lối, nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống xã hội. Đạo làm người, theo Nguyễn Nghĩa Dân: “Đó là con đường, là quy luật, là nguyên tắc mà con người có bổn phận phải giữ gìn và tuân theo trong quan hệ với chính mình, với xã hội và tự nhiên” [13; tr.14]. Đạo làm
người trong ca dao Nam Bộ được xác định cụ thể là đạo làm cha mẹ, đạo làm con cái, đạo vợ chồng, đạo của người quân tử, đạo làm công dân.
Đạo làm người trong ca dao Nam Bộ là tấm gương phản ánh phong tục Việt Nam nói chung, phong tục Nam Bộ nói riêng dưới dạng tư tưởng đạo đức, lối sống, bảo tồn cái tốt, loại trừ, phê phán cái xấu đưa xã hội phát triển ngày càng tốt đẹp hơn.
Ca dao Nam Bộ về đạo làm người chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn của Nho giáo và Phật giáo do tầng lớp trí thức làm chức năng sáng tác, đúc kết và truyền bá. Phần lớn tư tưởng về đạo làm người trong ca dao Nam Bộ được đúc kết dưới hình thức từ ngữ Hán Việt kiểu: Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng, tam cang ngũ thường, cang thường, đạo cang thường, nghĩa cang thường, tam tòng, tứ đức, ngũ luân, đạo tao khang, nghĩa tao khang, đạo phu thê, nghĩa phu thê, xuất giá tòng phu, quân tử nhất ngôn, tam niên nhũ bộ, cửu tự cù lao v.v…, nội dung về đạo làm người đã được dân gian hóa, được truyền miệng thành tư tưởng đạo đức trong ứng xử giữa người với người trong xã hội.
Theo khảo sát của chúng tôi, ca dao Nam Bộ có 727 từ ngữ Hán Việt khác nhau, tần số xuất hiện là 1655 lượt, trong đó có 133 từ ngữ Hán Việt chỉ đạo làm người, chiếm tỉ lệ 18, 3%, tần số xuất hiện là 465/1655 lượt, chiếm tỉ lệ 28, 1%. Từ ngữ Hán Việt chỉ đạo làm người được sử dụng nhiều và tần số cao hơn hẳn các nhóm từ ngữ Hán Việt khác trong ca dao Nam Bộ, chẳng hạn từ nghĩa (ngỡi)xuất hiện 60 lần, chung tình 25 lần, nghĩa nhân (nhân nghĩa, ngãi nhân, ngãi nhơn, nghĩa nhơn, ngỡi nhân, nhân ngãi, nhân ngỡi, nhơn ngãi, nhơn nghĩa) xuất hiện 46 lần, quân tử 22 lần, cang thường21 lần, đạo cang thường và nghĩa cang thường 11 lần, đạo phu thê 2 lần, nghĩa phu thê 6 lần, tao khang 11 lần, đạo tao khang2 lần, nghĩa tao khang6 lần v.v…
Đạo làm người trong quan hệ ứng xử xã hội là đạo lý nhân nghĩa; đạo của người quân tử là ngũ luân: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; đạo của người phụ nữ là tam tòng, tứ đức; đạo làm người trong quan hệ con cái đối với cha mẹ, anh em trong gia đình là hiếu đễ, trong quan hệ vợ chồng là hòa thuận, thủy chung.
a. Đạo làm người trong quan hệ ứng xử xã hội
a1. Đạo làm người trong ca dao Nam Bộ trước hết là đạo lý nhân nghĩa:
“Thấy điều nghĩa không làm, không phải là người dũng cảm; thấy nguy nan không cứu, không phải là anh hùng”.
Nhân và nghĩa vốn có nguồn gốc từ Nho học, là tư tưởng mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đạo nhân nghĩa du nhập vào Việt Nam, được vận dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Theo Nguyễn Trãi, cái gốc của nhân nghĩa là ở yên dân: “Việc nhân nghĩa cốt để yên dân”
(Nguyễn Trãi – Bình Ngô đại cáo). Theo Hồ Chí Minh, nhân nghĩa là phẩm chất của đạo đức cách mạng, Người nêu rõ: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ”, là “chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ”, là “không tham giàu sang, không e cực khổ, không sợ uy quyền”. Người cũng nêu: “Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy”, là “thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói”, là “không sợ người ta phê bình mình mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn” (Hồ Chí Minh bàn về giáo dục (1990), Nxb Giáo dục, II, tr.64-65, dẫn theo Nguyễn Nghĩa Dân [13; tr.18-19)].
Đạo làm người trong quan hệ ứng xử xã hội được thể hiện trong ca dao Nam Bộ là biết làm việc đạo nghĩa, biết xả thân cứu người, biết hy sinh vì người khác, biết làm những điều hợp với đạo lý làm người:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng.
Nàng còn nghĩ phận chữ tùng, Thì trao dây xích buộc vòng vào đâu?
Trong quan hệ ứng xử xã hội ở Nam Bộ, đạo lý nhân nghĩa bao giờ cũng được coi trọng. Trong quan hệ với tiền tài thì nhân nghĩa bao giờ cũng ở vị trí thứ nhất, bởi nhận thức và đạo lý khái quát bao giờ cũng là “Trọng nghĩa khinh tài”:
Tiền tài như phấn thổ, Nghĩa trọng tợ thiên kim Con le le mấy thuở chết chìm
Người bạc tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi.
Hai câu thơ Hán Việt: Tiền tài như phấn thổ, Nghĩa trọng tợ thiên kim ý nói tiền tài như bùn đất, nghĩa đáng quý như ngàn vàng. Phấn thổ (bùn đất) biểu trưng cho cái tầm thường và thiên kim (ngàn vàng) biểu trưng cho cái cao quý. Đây là bài ca dao tiêu biểu cho đạo lý trọng nghĩa khinh tàicủa người Nam Bộ.
a2. Đạo làm người được thể hiện trong ca dao Nam Bộ còn là các mối quan hệ mang tính “công thức” trong xã hội phong kiến: “Tam cang ngũ thường”, “tam tòng tứ đức”, là “ngũ luân”.
Tam cang ngũ thường là tư tưởng của Nho giáo gồm có tam cang và ngũ thường. Tam cang là ba điều đạo trọng là: quân thần cang (giềng mối vua tôi), phụ tử cang (giềng mối cha con) và phu thê cang (giềng mối chồng vợ). Ngũ thường gồm: nhân (lòng thương người mến vật), nghĩa(cư xử theo đạo lý, lẽ phải), lễ (phép tắc tốt đẹp trong xử thế), trí (năng lực hiểu biết), tín (tin tưởng). Tam cang ngũ thường tất cả gồm tám chữ, chia làm hai phần trọng yếu là tam cang (trung, hiếu, nghĩa) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Ca dao Nam Bộ đã dân gian hóa tam cang ngũ thường thành nghĩa cang thườngchỉ tình cảm vợ chồng rất độc đáo:
Màn rồng một bức giăng ngang,
Tôi với mình trời định, tam cang ngũ thường. Mình về thưa lại thung đường,
Qua đây gá nghĩa cang thườngvới em.
Tam tòng theo lễ giáo phong kiến chính là ba điều mà người phụ nữ phải theo: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử:
Tam tòng sách hãy còn ghi, Bé nương cha mẹ lớn thì theo anh.
Ngũ luân là năm thứ bậc đối đãi theo đạo thường của con người đối với xã hội và gia đình gồm: 1) Quân thần: vua tôi(Vua phải minh, thần phải trung). 2) Phụ tử: cha con (Cha phải từ, con phải hiếu). 3) Phu phụ: chồng vợ (Chồng trọn nghĩa, vợ trọn trinh). 4) Huynh đệ: anh em(Anh em như thể chân tay). 5) Bằng hữu: bạn bè (Phải lấy tín thành mà đối đãi nhau). Đức Khổng Tử cho ngũ luân là ngũ đạt