Chương 2. TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN
2.3. Ngữ nghĩa của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ
Miếu ông Điền Bát lưu tồn ngày nay.
Lưu tồncó nghĩa là còn lại mãi mãi.
Trong ca dao Nam Bộ, những từ ngữ Hán Việt nói về tình yêu quê hương đất nước ít hơn so với từ ngữ Hán Việt nói về tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình (tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ - con cái) và từ ngữ Hán Việt nói về các vấn đề xã hội khác.
2.3.2. Từ ngữ Hán Việt chỉ tình yêu nam nữ
Đề tài về tình yêu đôi lứa và khát vọng tình cảm luôn luôn là đề tài lớn nhất, phong phú và đa dạng nhất trong thơ ca từ cổ chí kim cũng như trong ca dao. Vì thế, có rất nhiều từ ngữ Hán Việt thể hiện chủ đề này: ái ân, ân tình, bạc tình, lương duyên, chung tình, hữu tình, thủy chung, căn duyên tiền định, hữu duyên thiên lý ngộ, vô duyên bạc phận, thủy chung như nhứt, bách niên giai ngẫu v.v…
Những từ ngữ Hán Việt chỉ tình yêu nam nữ có thể chia thành những nhóm nhỏ - ứng với các giai đoạn khác nhau trong tình yêu:
(i) Tỏ tình: duyên tình, hữu tình, hữu duyên, hữu ý, lương duyên, căn duyên, căn duyên tiền định, hữu duyên thiên lý ngộ.
(ii) Giận hờn, trách móc: bạc tình, bạc nghĩa/ bạc ngãi, bạc phận, phụ bạc, phụ nghĩa, phụ tình, vô duyên, hữu nhãn vô châu.
(iii) Thương nhớ, sầu, ly biệt: biệt ly, ly biệt, chia ly, hiệp tan/ hợp tan, thảm sầu, thảm tình, sầu ái, thất tình, tương tư, tương hội, ưu phiền.
(iv) Thề nguyền, ước hẹn thủy chung: chung tình, tình chung, chung hiệp, thủy chung, thủy chung như nhứt, bách niên giai ngẫu.
(v) Cầu hôn: cầu thân, cầu hôn, giá thú, giao duyên, giao hoan, sính nghi, định đôi can lệ.
2.3.3. Từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm gia đình
Tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình là ba nội dung lớn trong ca dao Nam Bộ. Vì thế, đây là những chủ đề có rất nhiều từ ngữ biểu thị. Trong nhóm từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm gia đình có thể chia thành hai tiểu
loại chủ yếu: từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm vợ chồng và từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm cha mẹ - con cái.
2.3.3.1. Từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm vợ chồng
Ca dao Nam Bộ rất coi trọng đạo làm người, ba điều cơ bản thường được nhắc đến là trung, hiếu và tình. Những từ ngữ Hán Việt diễn tả tình cảm vợ chồng trong Ca dao Nam Bộ như: giao hòa, hiền thê, hiệp cẩn, phu phụ, phu quân, phu thê, tân hôn, vu quy, xuất giá, đạo phu thê, đạo chồng nghĩa vợ, đạo nghĩa vợ chồng, đạo phu thê, đạo tao khang, nghĩa tao khang, xuất giá tòng phu, chi tử vu quy, nhất mã lưỡng cương, nhứt phu lưỡng phụ, thủy chung như nhứt.
2.3.3.2. Từ ngữ Hán Việt chỉ tình cảm cha mẹ - con cái
Từ ngữ Hán Việt nói về tình cảm cha mẹ - con cái trong Ca dao Nam Bộ bao gồm các từ ngữ như: ấu tử, báo hiếu, bất hiếu, bổn phận, cốt nhục, cưu mang, dưỡng dục, dưỡng nuôi, hiếu hạnh, hoài thai, hoạn dưỡng, mẫu thân, mẫu từ, mồ côi, nuôi dưỡng, phụ mẫu, phụ tử, phụng dưỡng, phụng thờ, sanh dưỡng, sinh thành/ sanh thành, song thân, thơ ấu, từ mẫu, tam niên nhũ bộ, cửu tự cù lao, báo bổ sanh thành, bất tôn giáo hóa v.v...
Trong những từ ngữ vừa nêu, có thể chia thành những nhóm sau:
(i) Từ ngữ chỉ cha mẹ - con cái: phụ mẫu, mẫu thân, mẫu từ, từ mẫu, song thân, phụ tử, cốt nhục, đệ huynh, ấu tử.
(ii) Từ ngữ chỉ công lao khó nhọc của cha mẹ đối với con cái: cưu mang, dưỡng dục, dưỡng nuôi, nuôi dưỡng, hoài thai, hoạn dưỡng, sanh dưỡng, sinh thành/ sanh thành, tam niên nhũ bộ, cửu tự cù lao.
(iii) Từ ngữ Hán Việt chỉ sự đền đáp công ơn của con cái đối với cha mẹ:
báo hiếu, bất hiếu, bổn phận, hiếu hạnh, phụng dưỡng, phụng thờ, báo bổ sanh thành.
Ca dao Nam Bộ sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt nói về tình cảm cha mẹ - con cái là có nguyên do chứ không phải ngẫu nhiên. Tình cảm cha mẹ - con cái là tình cảm thiêng liêng mà dân gian muốn gửi gắm vào ca dao, để vun đắp, bồi dưỡng nó.
Cha mẹ có công sanh thành, nuôi dưỡng; con cái phải có bổn phận báo đáp, phụng dưỡng. Đó cũng chính là đạo làm người ở đời.
Từ phụ mẫu xuất hiện 56 lần trong các bài ca dao khác nhau, đây là từ nằm trong nhóm những từ có tần số xuất hiện cao nhất trong ca dao Nam Bộ. Mặc dù đã có từ thuần Việt cha mẹ, mẹ nhưng ca dao Nam Bộ lại rất hay sử dụng từ Hán Việt phụ mẫu, song thân, mẫu thân, mẫu từ, từ mẫu. Sử dụng từ ngữ Hán Việt đẳng nghĩa là lựa chọn nhằm tạo sự đa dạng cho cách diễn đạt trong ca dao Nam Bộ.
Ngoài ba nội dung lớn đã được trình bày trên, từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ còn thể hiện một số nội dung khác.
2.3.4. Từ ngữ Hán Việt chỉ quan niệm về thế giới, về đạo đức, về cuộc sống, về con người của người Nam Bộ
2.3.4.1. Từ ngữ Hán Việt biểu thị khái niệm, quan niệm về đạo nghĩa Coi trọng đạo nghĩa là một đặc điểm đáng quý trong tính cách của người Việt nói chung và người Việt Nam Bộ nói riêng. Trọng đạo nghĩa là biết làm việc phải đạo, biết xả thân cứu người, biết hy sinh vì người khác, biết làm những điều hợp với đạo lý làm người. Trong ca dao Nam Bộ có sự xuất hiện của khá nhiều từ ngữ Hán Việt biểu thị các khái niệm, quan niệm về đạo nghĩa như: đạo, nghĩa, nhân, hiếu, trung, đạo nghĩa, nghĩa nhân, nhân đạo, hiếu hạnh, ngũ luân, tam cang, ngũ thường, cang thường v.v… Có một điều thú vị là từ nghĩa nhân, nhân nghĩa và các biến thể nhơn nghĩa, nghĩa nhơn, ngãi nhơn, nhơn ngãi, ngãi nhân, nhân ngãi, nhân ngỡi, ngỡi nhânxuất hiện 46 lần. Đây là minh chứng cụ thể về tinh thần trọng nhân nghĩacủa người Nam Bộ.
Những khái niệm, quan niệm về đạo nghĩa trong ca dao Nam Bộ không chỉ bó hẹp trong một mối quan hệ nào, mà nó bao trùm lên tất cả các mối quan hệ khác nhau trong xã hội. Vì vậy, từ ngữ Hán Việt biểu thị khái niệm, quan niệm về đạo nghĩa cũng có thể được chia thành:
(i) Đạo nghĩa trong quan hệ ứng xử xã hội: nghĩa nhân, nhân nghĩa, tam tòng, tứ đức, tam cang ngũ thường, kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng, tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng tợ thiên kim.
(ii) Đạo nghĩa trong quan hệ gia đình: hiếu, nghĩa, cưu mang, hoài thai, sinh thành, dưỡng dục, đạo phu thê, nghĩa phu thê, đạo tao khang, nghĩa tao khang, cửu tự cù lao, tam niên nhũ bộ.
2.3.4.2. Từ ngữ Hán Việt chỉ thế giới thực và thế giới tâm linh
Ảnh hưởng quan niệm Đông phương về cuộc đời của con người, người Việt nói chung và người Nam Bộ nói riêng thường tin rằng ngoài thế giới thực, con người còn có một thế giới khác, thuộc phạm trù tâm linh của con người. Trong ca dao Nam Bộ, có khá nhiều từ ngữ Hán Việt chỉ các khái niệm về thế giới thực và thế giới tâm linh của con người như: dương gian, dương trần, phàm trần, tái thế, tạo hoá, thế gian, thế sự, thế thường, thiên hạ, âm cung, âm phủ, diêm đình, đầu thai, huỳnh tuyền, ngọc hoàng, thiên đình, thiên tào, tiền định v.v…
2.3.4.3. Từ ngữ Hán Việt chỉ công danh – sự nghiệp, tiền tài, danh vọng, tình cảnh
Nhóm từ ngữ chỉ công danh – sự nghiệp, tiền tài, danh vọng, tình cảnh xuất hiện rải rác trong ca dao Nam Bộ như: cơ cực, cơ đồ, cơ hàn, cơ nghiệp, danh hư, danh lợi, danh thơm, danh vọng, gia tài, hiểm nghèo, hiểm nguy, hiển vinh, hoạnh tài, khổ lao, lao khổ, khốn nạn, lâm nguy, lâm thân, lập nghiệp, lỡ thời, lỡ vận, phong lưu, phú quý, quyền quý/ quyền quới, quý vật, quý nhân, sa cơ, thạnh suy, thạnh thời, thâm trầm, thịnh trị, thối lui, thối nan, tiền tài, vinh hiển, vinh huê, vinh quy v.v…
2.3.4.4. Từ ngữ Hán Việt chỉ phẩm chất của trung trinh liệt nữ, quân tử anh hùng
Trong xã hội xưa, đàn ông phải là người có khí phách anh hùng, đầu đội trời, chân đạp đất; phụ nữ phải là người chính chuyên, là trung trinh liệt nữ. Những từ ngữ Hán Việt diễn tả phẩm chất tốt đẹp của họ trong ca dao Nam Bộ như: anh dũng, anh hào, anh hùng, chí sĩ, chính chuyên, đôn hậu, đức hạnh, hiền lương, lịch sự, liệt nữ, nhân hiền, nho sĩ, nhu mì, nữ thanh, quân tử, quý nương, thủ tiết, thuần hậu, thục nữ, thuyền quyên, trí huệ, trí tài, trực tiết, trượng phu v.v…
Cần thấy rằng, trên đây không phải là những nhóm nghĩa hoàn toàn tách biệt nhau, khi xét ở góc độ này thì chúng thuộc về nhóm nghĩa này nhưng khi xét ở góc độ khác thì chúng lại thuộc về nhóm nghĩa khác, chẳng hạn, ngữ đạo phu thê vừa thuộc nhóm nghĩa chỉ tình cảm vợ chồng, vừa thuộc nhóm nghĩa chỉ quan hệ đạo nghĩa. Từ ngữ Hán Việt nằm trong nhóm nghĩa chỉ tình cảm gia đình và quan hệ đạo nghĩa trong ca dao Nam Bộ nổi trội hơn so với từ ngữ Hán Việt trong các nhóm nghĩa khác. Ca dao Nam Bộ nói nhiều đến giá trị tình cảm gia đình, đạo nghĩa, nhân nghĩa, là những khái niệm vốn có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng các quan niệm về nhân sinh, đạo đức trong ca dao Nam Bộ không chỉ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa mà nó còn là truyền thống quý báu bao đời của người Việt Nam nói chung và người Nam Bộ nói riêng.