Chương 3. TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN SỬ
3.1. Tần số xuất hiện của từ ngữ Hán Việt trong quyển Ca dao dân ca Nam Bộ (có so sánh
Ca dao Việt Nam nói chung, ca dao các vùng miền khác nói riêng đều có dùng từ ngữ Hán và điển cố điển tích Hán. Khảo sát từ ngữ Hán Việt trong các cuốn ca dao được sưu tầm ở các địa phương khác nhau sẽ thấy rõ điều này.
Theo thống kê của Nguyễn Phương Châm: “Trong cuốn Hát ví đồng bằng Hà Bắccó 691 lời thì có 22 lời có từ gốc Hán và điển tích Hán chiếm 3,1%. Trong cuốn Hát phường vảicó 1771 lời thì có 145 lời sử dụng từ gốc Hán và điển tích Hán chiếm 8,1%. Đất Nghệ An, mảnh đất nho học nổi tiếng của các ông đồ Nghệ, của các cuộc hát ví, hát đối nhuốm màu Hán học nên tỷ lệ trên vượt hơn hẳn so với xứ Bắc. Trong Ca dao dân ca Nam Bộ có 1858 lời thì có 281 lời dùng từ gốc Hán và điển tích Hán, chiếm gần 10%. Trong 281 lời đó nhiều nhất là các lời ca dao về tình yêu đôi lứa, ít nhất là chủ đề về quê hương đất nước (chỉ có 3 lời)” [9; tr.54]. Từ kết quả thống kê của Nguyễn Phương Châm, có thể thấy rằng ca dao được sưu tầm ở Nam Bộsử dụng nhiều từ gốc Hán và điển tích Hán hơn ca dao được sưu tầm ở Bắc Bộ và Trung Bộ.
So sánh từ ngữ Hán Việt trong Ca dao Nam Bộvới từ ngữ Hán Việt trong Ca dao Nam Trung Bộ và từ ngữ Hán Việt trong Ca dao Việt Nam, chúng tôi thấy rằng Ca dao Nam Bộsử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt nhất và tần số sử dụng cao nhất. Ca dao Nam Bộ2 có 1207/1858 bài sử dụng từ ngữ Hán Việt, chiếm tỉ lệ 65%; Ca dao
2Ca dao dân ca Nam Bộ(1984), Bảo Định Giang - Nguyễn Tấn Phát - Trần Tấn Vĩnh - Bùi Mạnh Nhị, Nxb
Việt Nam3 có 360/1238 bài sử dụng từ ngữ Hán Việt, chiếm tỉ lệ 29, 1%; Ca dao Nam Trung Bộ4có 495/1650 bài sử dụng từ ngữ Hán Việt, chiếm tỉ lệ 30%. Sau đây là bảng số liệu thống kê cụ thể:
Đối tượng thống kê Số lượng Tần số sử dụng Tỉ lệ %
Ca dao Nam Bộ
Từ đơn 88 446 12, 1%
Từ ghép 507 1029 69, 7%
Ngữ định danh 51 66 7 %
Thành ngữ 81 101 11, 2%
Tổng số 727 1655 100%
Ca dao Việt Nam
Từ đơn 44 158 13, 4%
Từ ghép 250 369 76, 2%
Ngữ định danh 18 18 5, 5%
Thành ngữ 16 19 4, 9%
Tổng số 328 564 100%
Ca dao Nam Trung Bộ
Từ đơn 47 89 10, 8%
Từ ghép 326 568 74, 6%
Ngữ định danh 24 28 5, 5%
Thành ngữ 40 57 9, 1%
Tổng số 437 742 100%
Nhìn vào bảng thống kê trên có thể thấy từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ (từ đơn, từ ghép, ngữ định danh và thành ngữ) nhiều hơn hẳn về số lượng và tần số sử dụng so với Ca dao Nam Trung Bộ và Ca dao Việt Nam. Nhận xét về hiện tượng Ca dao Nam Bộ sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt hơn hẳn ca dao các miền khác, Nguyễn Xuân Kính đã từng cho rằng đây là một “nghịch lý”, bởi lẽ Nho học ở Nam Bộ bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn (bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII kết thúc khoảng năm 1862 – khoa thi Hương cuối cùng) so với Nho học ở miền Bắc và miền Trung. Nguyễn Xuân Kính [31] đã nhận xét xác đáng khi cho rằng đó chính là
“nghịch lý”: Ca dao ở vùng có truyền thống tiếp thu Nho học và văn học Trung
3Ca dao Việt Nam(2007), Ngọc Quang, Nxb Văn hóa – Thông tin.
Ca dao Nam Trung Bộ
Quốc lâu hơn, sớm hơn lại không dùng nhiều từ ngữ Hán Việt và điển tích văn học Trung Quốc.
Khảo sát từ ngữ Hán Việt trong ba tác phẩm Ca dao Nam Bộ, Ca dao Nam Trung Bộ và Ca dao Việt Nam chúng tôi thấy có rất nhiều bài giống nhau. Có khi giống nhau hoàn toàn về mặt câu chữ hoặc chỉ khác nhau ở một hai chữ:
Trăm năm giữ vẹn chữ tòng, Sống sao thác vậy một chồng mà thôi.
(CDVN, tr. 126) Trăm năm, giữ vẹn chữ tòng,
Sống sao thác vậy một lòng mà thôi.
(CDNTB, tr.285) Trăm năm giữ vẹn chữ tòng,
Sống sao thác vậy một chồng mà thôi.
(CDNB, tr.453) Ca dao Nam Bộcó rất nhiều bài hoặc giống với Ca dao Việt Namhoặc giống với Ca dao Nam Trung Bộ. Ca dao Nam Bộ có nhiều bài giống với Ca dao Việt Nam:
Cái vòng danh lợi cong cong, Kẻ mong ra khỏi, người trông chui vào.
(CDNB, tr.476) Cái vòng danh lợi cong cong,
Kẻ hòng ra khỏi, người mong chui vào.
(CDVN, tr.214) Cũng cùng là một bài ca dao, Ca dao Việt Nam có ba câu:
Ngó lên chữ ứ, Ngó xuống chữ ư.
Anh đừng thương vội phụ mẫutừ nghĩa em.
(CDVN, tr.184) Ca dao Nam Bộcó bốn câu:
Ngó lên chữ ứ, Ngó xuống chữ ư,
Anh thương em thủng thẳng em ừ, Anh đừng thương vội phụ mẫutừ nghĩa em.
(CDVN, tr.332) Ca dao Nam Bộ cũng có rất nhiều bài giống với Ca dao Nam Trung Bộ:
Chữ rằng chi tử vu quy, Làm thân con gái phải đi theo chồng.
(CDNB, tr.432) Chữ rằng: Chi tử vu quy
Làm thân con gái phải đi theo chồng.
(CDNTB, tr.148, 265) Có một điều đặc biệt là Ca dao Việt Nam không có bài nào sử dụng những dòng thơ toàn bằng từ ngữ Hán Việt, trong khi đó Ca dao Nam Bộ và Ca dao Nam Trung Bộ có rất nhiều bài kiểu như vậy:
Họa hổ, họa bì, nan họa cốt, Tri nhơn, tri diện, bất tri tâm.
May không chút nữa em lầm,
Khoai lang khô xắt lát, tưởng nhân sâm bên Tàu.
(CDNB, tr.296) Họa hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất tri tâm. May không chút nữa thì lầm,
Củ khoai lang mà em ngỡ cao ly sâm bên Tàu.
(CDNTB, tr.274) Ca dao là một thể loại của văn học dân gian, do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên ca dao luôn được nhân dân truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì thế, ca dao luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái cấu trúc ban đầu mặc dù có thay đổi một vài từ khi được truyền miệng ở
các địa phương khác nhau. Hơn nữa, sự di cư từ miền này đến miền khác không chỉ là sự di cư về mặt con người địa lý mà còn cả về con người văn hóa, trong đó có vốn ca dao đã ăn sâu trong tiềm thức của họ.