Chương 3. TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN SỬ
3.3. Chức năng tạo văn bản của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ
3.3.1. Chức năng làm dẫn ngữ trong bài ca dao
Dẫn ngữ là phương thức dùng điển tích, thành ngữ, tục ngữ, các câu thơ, ý văn có giá trị tiêu biểu để dẫn vào nội dung của bài ca dao, làm cho nội dung diễn đạt thêm phần sinh động và biểu cảm, nó có thể gợi hàm ngôn, thể hiện năng lực diễn đạt của chủ thể sáng tạo.
Dẫn ngữ trong ca dao Nam Bộ xuất hiện ở ba dạng chủ yếu: dẫn ngữ điển tích, dẫn ngữ thành ngữ tục ngữ và dẫn ngữ thơ văn.
Dẫn ngữ điển tích là cách dùng tên các nhân vật, sự kiện, truyền thuyết lịch sử, địa danh; dùng các câu trong kinh sách v.v…, để vận dụng liên tưởng ngữ nghĩa ở một bối cảnh ngôn ngữ nhất định nhằm tạo ra tính biểu trưng. Chẳng hạn, bài ca dao sau đây lấy chuyện triều đình Trung Quốc làm đề tài:
Tiền Đường, hậu Tống Tam Quốc, Châu Do
Anh không thương em nói chuyện đưa đò Cũng như Đát Kỷ qua phò Trụ vương.
Do điển tích không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, nên chúng tôi chỉ tìm hiểu hai loại dẫn ngữ: dẫn ngữ thành ngữ, tục ngữ và dẫn ngữ thơ văn trong ca dao Nam Bộ.
a. Dẫn ngữ thành ngữ, tục ngữ
Dẫn ngữ thành ngữ, tục ngữ xuất hiện trong ca dao Nam Bộ chủ yếu là ở nguyên dạng, tạo thuận lợi cho việc nắm bắt nội dung diễn đạt và việc lĩnh hội bản chất nội dung của bài ca dao:
Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, Mặt chưa thấy mặt mà tình đã thương.
Thành ngữ văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình (nghe tên, nghe tiếng mà chưa thấy người, thấy mặt) đóng vai trò là dẫn ngữ để tác giả dân gian muốn nói ý sau: mặt chưa thấy mặt mà tình đã thương.
Tương tự bài ca dao sau đây, phần dẫn ngữ và phần sau có ý nghĩa tương tự nhau:
Mục bất kiến, nhĩ tằng văn,
Thấy em có nghĩa mấy trăng anh cũng chờ.
Mục bất kiến, nhĩ tằng văn có nghĩa là mắt chưa thấy nhưng tai đã nghe cho nên biết em là người nghĩanên bao lâu anh cũng chờ.
Dẫn ngữ họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm trong bài ca dao sau không chỉ có tác dụng gieo vần mà còn là một triết lý mang đậm nhân sinh quan của tác giả dân gian:
Họa hổ họa bì nan họa cốt Tri nhân tri diện bất tri tâm May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát, tưởng nhân sâm bên Tàu.
Họa hổ họa bì nan họa cốt,tri nhân tri diện bất tri tâm có nghĩa là vẽ hổ vẽ da thì dễ, vẽ xương thì khó, biết người, biết mặt nhưng khó biết lòng dạ của họcũng như khoai lang khô xắt lát, tưởng nhân sâm bên Tàu. Những bài ca dao kiểu này thực chất là hình thức mà tác giả dân gian vận dụng ngữ liệu chữ Hán rồi sau đó giải thích ý nghĩa của câu thơ Hán ngữ bằng cách nói tương đương.
Ca dao Nam Bộ có những bài mà hình thức khá đặc biệt: phần dẫn ngữ là thành ngữ Hán Việt, phần cuối phát triển ý của dẫn ngữ:
Minh quân, tương tế tao phùng dị, Tài tử, giai nhân tế ngộ nan.
Trời xui anh gặp bạn vàng,
Một lời phải nghĩa muôn ngàn khó mua.
Ca dao Nam Bộ còn có những bài dùng dẫn ngữ không có liên quan gì đến phần dưới của bài ca dao, chúng chỉ có tác dụng đưa vần cho câu thơ phía dưới:
Kiến bất thủ nhi tầm thiên lý, Thấy miệng em cười hữu ý anh thương.
Chúng tôi cho rằng, bài ca dao sau đây phần dẫn ngữ ngoài việc gieo vần thì chúng không có tác dụng gì, bởi không có sự liên hệ ý nghĩa giữa dẫn ngữ và phần sau đó:
Bần cư náo thị vô nhơn vấn, Phú tại thâm sơn hữu viễn thân.
Anh với em chút nữa thì gần, Tại ba với má bẻ cần tháo dây.
Hay:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng.
Nàng còn nghĩ phận chữ tùng, Thì trao dây xích buộc vòng vào đâu?
Dẫn ngữ Bần cư náo thị vô nhơn vấn, Phú tại thâm sơn hữu viễn thân vốn nguyên từ câu Bần cư náo thị vô nhân vấn, Phú tại sơn lâm hữu khách tầm có nghĩa là nghèo mà sống giữa đô thị cũng chẳng ai hỏi tới, giàu mà sống nơi rừng núi cũng có người tìm tới. Ý nghĩa của dẫn ngữ không liên quan đến ý nghĩa phần sau của bài ca dao. Hay dẫn ngữ Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng có nghĩa là thấy điều nghĩa không làm không phải là người dũng cảm, thấy nguy nan không cứu không phải là anh hùng. Dẫn ngữ này cũng không có sự liên hệ về nghĩa với phần sau đó.
Có thể nói, những bài ca dao mà phần dẫn ngữ không liên quan đến phần dưới là những trường hợp vận dụng chữ Hán chưa đạt hiệu quả, bởi vì xét kĩ nội dung của phần dẫn ngữ và phần sau không có mối liên hệ ngữ nghĩa với nhau.
Trong kho tàng ca dao người Việt cũng có hiện tượng dùng dẫn ngữ:
Kì mã phùng Bá Nhạc, Bàng điểu ngộ lam phong.
(Ngựa hay gặp được Bá Nhạc - người giỏi xem tướng ngựa, Chim đại bàng gặp được gió núi)
Qua muốn tường dạ đó đục trong, Cho hay thuyền bưởi dạ bòng thuyền quyên.
Ca dao xứ Huế cũng có bài tương tự:
Nhất ngôn ký xuất Tứ mã nan truy Người đời ai có dại chi
Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông.
Dẫn ngữ thành ngữ Hán Việt Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy có nghĩa là:
“Hết sức thận trọng trong nói năng, trước khi nói phải cân nhắc, suy nghĩ, bởi khi nói ra rồi thì không có cách nào rút lại được, ví như một lời nói ra, dù có bốn ngựa cũng khó mà đuổi kịp” [77; tr.108]. Đúng như Ưng Luận đã nhận xét, chúng “chỉ dùng để đưa vần cho hai câu dưới chứ không có liên hệ gì với ý nghĩa cả” (Dẫn theo Nguyễn Xuân Kính - Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt, Bài viết tham gia Hội thảo Văn học chữ Hán và Văn hóa dân gian châu Á do Trường Đại học Thành Công (Đài Loan) tổ chức năm 2007).
Còn đây là bài ca dao xứ Nghệ:
Kì sơn, kì thủy, kì phùng Lạ non, lạ nước, lạ lùng gặp nhau
Tri nhân, tri diện, tri tâm
Kháp người, kháp mặt, kháp tri âm với nường.
Dẫn ngữ trong dòng thứ nhất (đã được dòng thứ hai dịch nghĩa) và dòng thứ ba (nghĩa là: Biết người, biết mặt, biết lòng) là dẫn ngữ Hán Việt, còn kháp (ở dòng thứ tư) là tiếng địa phương, có nghĩa là gặp.
Theo thống kê của chúng tôi, ca dao Nam Bộ có 33 bài dùng dẫn ngữ, cách dùng dẫn ngữ Hán Việt cũng là hình thức chuyển tải ý nghĩa những câu chữ Hán ra một nghĩa dễ hiểu hơn với tầng lớp bình dân. Những bài ca dao này tuy có sự chuyển tải về ý nghĩa ra từ ngữ thuần Việt nhưng thật ra thì vẫn rất khó hiểu đối với đa số người dân không am hiểu chữ Hán; bởi ngoài những câu châm ngôn phổ biến mang tính kinh điển thì vẫn có những câu mang tính triết lý sâu xa.
Bỏ qua những hạn chế của việc sử dụng dẫn ngữ, có thể nói rằng, ca dao các miền nói chung, ca dao Nam Bộ nói riêng sử dụng phương tiện dẫn ngữ đã làm cho nội dung diễn đạt thêm hàm súc, giàu hình tượng, tạo ra được hiệu quả thẩm mỹ trong diễn đạt, làm nổi bật lên được nội dung tư tưởng cu3a bài ca dao.
b. Dẫn ngữ thơ văn, sách vở
Ngoài việc sử dụng dẫn ngữ là điển tích, thành ngữ, ca dao Nam Bộ còn sử dụng dẫn ngữ được mượn từ những câu thơ, ý thơ, các câu trong kinh sách để diễn
đạt nội dung. Tuy nhiên, việc xác định nội dung được diễn đạt là những câu thơ, đoạn văn nào là điều không phải bao giờ cũng thực hiện được. Do đó, tiền giả định và sự liên tưởnglà rất quan trọng để xác định nội dung được diễn đạt trong dẫn ngữ được xuất phát từ đâu.
Chúng ta đã biết trong Truyện Kiềucủa thi hào Nguyễn Du có câu:
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê! (câu 247-248) Trong ca dao Nam Bộ lại có bài:
Nhứt nhựt bất kiến như tam nguyệt hề, Thăm em chút xíu anh về, Kẻo mà trăng lặn tứ bề khó trông.
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê hay nhứt nhựt bất kiến như tam nguyệt hề là hình thức tập cổ của câu Nhất nhật bất kiến như tam thu hề (một ngày không thấy mặt, lâu như ba năm) trong Kinh Thi. Bài Tử Khâm (áo chàng) trong Kinh Thi có đoạn viết: …Khiêu hề thoát hề/ Tại thành khuyết hề/ Nhất nhật bất kiến/ Như tam nguyệt hề. Tạm dịch là: …Em nhẹ nhàng nhẩy lên/ Lầu trên thành/ Một ngày không thấy chàng/ Như ba tháng. Dẫn ngữ nhứt nhựt bất kiến như tam nguyệt hề trong bài ca dao trên ngoài chức năng dùng để đưa vần cho hai câu dưới còn có sự liên hệ về ý nghĩa với phần sau đó ở mức độ nhất định.
Bên cạnh việc sử dụng dẫn ngữ toàn bằng từ ngữ Hán Việt trong một, hai dòng mở đầu bài ca dao, ca dao Nam Bộ còn sử dụng từ ngữ thuần Việt trước khi đưa dẫn ngữ:
Chữ rằng chi tử vu quy, Làm thân con gái phải đi theo chồng.
Trong Ca dao Nam Trung Bộ có hai bài giống hoàn toàn về câu chữ với bài ca dao Nam Bộ trên, chỉ khác sau chữ rằngcó dấu hai chấm:
Chữ rằng: Chi tử vu quy
Làm thân con gái phải đi theo chồng.
(CDNTB, tr.148 & tr.265)
Chi tử vu quy vốn xuất phát từ Kinh Thi, trong Kinh Thi, bài Đào yêu (Chu Nam) có câu:
Đào chi yêu yêu Chước chước kì hoa
Chi tử vu quy Nghi kì thất gia
Nghĩa là: Cây đào tơ xanh mơn mởn, hoa đỏ hồng rực rỡ - Cô ấy về nhà chồng, hòa hợp với gia đình nhà chồng của cô.
Dẫn ngữ họa phúc vô môntrong bài ca dao sau là mượn trong Minh Tâm Bảo Giám:
Chữ rằng họa phúc vô môn, Tìm giàu thì dễ, tìm khôn khó tìm.
Trong Ca dao Việt Nam cũng có bài giống hoàn toàn về câu chữ với bài ca dao Nam Bộ trên, chỉ khác về dấu phẩyở câu sau:
Chữ rằng họa phúc vô môn, Tìm giàu thì dễ tìm khôn khó tìm.
(CDVN, tr.65) Ca dao Nam Trung Bộcũng có bài tương tự:
Chữ rằng: “Họa phước vô môn”
Tìm giàu thì dễ, tìm khôn khó tìm.
(CDNTB, tr.294)
Thành ngữ họa phúc (phước) vô môn vốn xuất phát trong Minh tâm bảo giám, ở thiên Thiện kế có câu: Thái Thượng cảm ứng thiên viết: “họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu. Thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình (Thiên Thái Thượng cảm ứng viết rằng: “Điều họa hay điều phước đều không có cửa vào, do tự người ta mời tới.
Sự báo ứng của điều thiện, điều ác giống như bóng theo hình”). Còn theo Nguyễn Như Ý (chủ biên) thì họa phúc vô môncó nghĩa là: Tai họa hay hạnh phúc thường là do chính bản thân mình gây ra, mang đến [77; tr.62].
Như vậy, ca dao Nam Bộ và ca dao các miền khác sử dụng dẫn ngữ mượn từ những câu thơ, ý thơ, các câu trong kinh sách vào trong bài ca dao với tác dụng gieo vần, dẫn vào nội dung chính của bài ca dao, có thể làm tăng tính hàm súc, tính hình tượng cho bài ca dao.
Trong các dẫn ngữ được sử dụng, hình thức không có sự phức tạp, chúng cũng không được sử dụng đan xen nhiều loại dẫn ngữ trong một bài ca dao, mỗi bài thường chỉ sử dụng một dẫn ngữ điển tích, thành ngữ hoặc thơ văn nên chỉ cần hiểu chúng là có thể lĩnh hội được ý nghĩa của bài ca dao.
Trong ca dao Nam Bộ mà luận văn khảo sát, thường mỗi dẫn ngữ chỉ được sử dụng một lần, có ngoại lệ là một dẫn ngữ được dùng 3 lần (Họa hổ, họa bì, nan họa cốt, tri nhân, tri diên, bất tri tâm). Điều đáng nói là, chủ thể sáng tạo đã linh hoạt tạo ra cho dẫn ngữ những sắc thái nghĩa mới theo cách hiểu dân dã chứ không hoàn toàn còn theo ý nghĩa ban đầu vốn có của nó, nói cách khác, dẫn ngữ đã được bình dân hóa.