Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN
1.6. Khái quát về ca dao Nam Bộ
Ca dao Nam Bộ là một hình thức thể hiện của văn hóa tinh thần, là tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ trung thực của người dân Nam Bộ, thậm chí ngay cả những người dân không biết chữ. Đặc sắc của ca dao Nam Bộ vì thế là phản ánh được đời sống
vật chất, tinh thần của con người, là nơi ẩn chứa đầy đủ nhất về tâm tư tình cảm và khát vọng của những con người đi mở đất và những lớp người kế tiếp nhau trên mảnh đất Nam Bộ mà không có quyền lực nào có thể ngăn cản được. Nằm trong hệ thống ca dao Việt Nam, ca dao Nam Bộ cũng có những điểm chung và khu biệt so với ca dao cả nước.
1.6.1. Ca dao Nam Bộ
Nằm trong hệ thống văn học dân gian Việt Nam và là một bộ phận quan trọng của ca dao Việt Nam, ca dao Nam Bộ là một bộ phận của văn học dân gian được sưu tầm ở vùng đất Nam Bộ. Đây là những sáng tác nghệ thuật được truyền miệng, được lưu truyền ở vùng đất Nam Bộ. Nghĩa là nó có thể được nhân dân sáng tác trong suốt mấy thế kỷ qua trên vùng đất mới. Song, nó còn là vốn văn hóa cổ truyềnđược cất giữ trong trí nhớ của những người đi mở cõi từ các địa phương khác nhau tụ họp về đây. Nói đơn giản hơn, nó là tác phẩm nghệ thuật truyền miệng được sưu tầm, ghi chép từ chính những người hiện đang sinh sống trong vùng truyền lại.
Trong đó, bộ phận cốt lõi nhất là những lời ca dao được sáng tác trên mảnh đất Nam Bộ. Nó thể hiện được lời ăn tiếng nói, tâm tư tình cảm của người Nam Bộ cùng với những nét đặc thù của vùng đất mới được hình thành và phát triển song song với lịch sử khai phá và sự phát triển về văn hóa xã hội trên chính mảnh đất này.
1.6.2. Ngôn ngữ ca dao Nam Bộ
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên và rất quan trọng để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Nói đến ca dao Nam Bộ không thể không nói đến ngôn ngữ ca dao Nam Bộ. Ngôn ngữ cũng là lĩnh vực rất quan trọng để xem xét sắc thái địa phương.
Phương ngữ Nam Bộ hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử khai hoang vùng đất Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ là phương ngữ của vùng đất Nam Bộ. Nó thể hiện cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng của người Nam Bộ.
Phương ngữ Nam Bộ còn là nơi chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người và vùng đất Nam Bộ.
Tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ được thể hiện qua ca dao Nam Bộ là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của người Nam Bộ xưa trong việc sử dụng lời ăn tiếng nói của mình.
Phương ngữ Nam Bộ thể hiện trong ca dao Nam Bộ là sự biến âm của ngôn ngữ toàn dân và một số từ chuyên dụng ở Nam Bộ mới hiểu. Người Nam Bộ nói ở bển, ở trển, dìa, đờn, hổ ngươi,.... chứ không nói ở bên đó, ở trên đó, về, xấu hổ (mắc cỡ).
Chẳng hạn:
Ở trểnxuống đây cách năm bảy đám ruộng đồng
Muốn ghé thăm anh một chút, sợ cô bác nói gái tầm chồng em hổ ngươi. Ca dao Nam Bộ còn sử dụng nhiều từ ngữ mang tính phương ngữ khác như:
mốc thích, chơm bơm, tùm lum, lui cui lúc cúc,...
- Con cò nó mổ con lươn Bớ chị ghe lườn muốn tía tui hông
Tía tui lịch sự quá chừng
Cái lưng mốc thích, cái đầu chơm bơm. - Gió đưa bụi chuối tùm lum Má dữ như hùm ai dám làm dâu.
- Lui cui lúc cúc (lút cút) xúc con cá sặt mồi Lên doi xuống vịnh lần hồi nuôi nhau.
Người Nam Bộ tất phải nói theo cách Nam Bộ. Có lẽ một trong những giọng của họ là theo cách bộc trực, ngang tàng, phóng túng:
Con ếch ngồi dựa gốc bưng, Nó kêu cái “quệt” biểu ưng cho rồi.
Trong hoàn cảnh tự tình với nhau, đôi khi họ không dùng những từ hoa mỹ, không nói những từ chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, mà chỉ nói một cách mộc mạc, bình dân, cốt sao bày tỏ được lòng mình:
Anh về em nắm vạt áo em la làng Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.
Tuy nhiên cần khẳng định rằng, không phải ca dao Nam Bộ không có những bài có lối nói trau chuốt như ca dao Bắc hay Trung Bộ. Ca dao Nam Bộ không thiếu những câu óng ả, chải chuốt, nhưng mức độ và liều lượng của những trường hợp này không nhiều. Trong cách biểu đạt như vậy, ngôn ngữ của ca dao Nam Bộ thường biểu hiện ở sự nhỏ nhẹ, hiền lành, ngộ nghĩnh, dễ thương:
Trông lên chữ ứ
Ngó xuống chữ ư
Anh thương em, thủng thẳng em ừ Anh đừng thương vội, phụ mẫu từ nghĩa em.
Phương ngữ Nam Bộ ra đời tuy có muộn hơn so với phương ngữ của các vùng khác, nhưng không vì thế mà nó nghèo nàn, hời hợt, mà trái lại nó rất đa dạng, phong phú và sâu lắng. Nó chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cùng tính cách của con người Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ không chỉ đơn thuần là khẩu ngữ của người Nam Bộ mà nó đã bước vào văn học nghệ thuật với một tư thế rất đường hoàng. Những câu ca dao Nam Bộ vừa dẫn trên là một minh chứng cho điều này.
Ngoài việc sử dụng phương ngữ, ca dao Nam Bộ còn dùng khá nhiều từ ngữ Hán Việt.
Chẳng hạn:
Trai tứ chiếng, gái giang hồ, Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên.
Hay:
Thủy để ngư thiên biên nhạn, Cao khả xạ hề, để khả điếu, Chỉ xích nhơn tâm bất khả phòng,
E sao lòng lại đổi lòng
Nhiều người tham bưởi chê bòng lắm anh.
Không chỉ sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt, ca dao Nam Bộ còn sử dụng nhiều biến thể từ ngữ Hán Việt, đây là nét độc đáo trong cách dùng từ ngữ của ca dao Nam Bộ.