• 検索結果がありません。

Chương 2. TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN

2.1. Đặc điểm về ngữ âm của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ

2.1.3. Từ ngữ Hán Việt có hai âm đọc Hán Việt

2.2.1.2. Từ ghép Hán Việt

Từ ghép chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ: 507 từ, tần số xuất hiện là 1029 lượt, chiếm tỉ lệ 69, 7%.

a. Từ ghép Hán Việt nhìn từ tiêu chí ngữ nghĩa

Xét từ tiêu chí ngữ nghĩa, từ ghép Hán Việt trong ca dao Nam Bộ được chia thành hai loại: từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa.

a1. Từ ghép Hán Việt hợp nghĩa

Từ ghép hợp nghĩa hay còn gọi là từ ghép hội nghĩa, từ ghép phối nghĩa. Từ ghép Hán Việt hợp nghĩa, xét về quan hệ ngữ pháp chính là từ ghép đẳng lập. Trong từ ghép hợp nghĩa, các yếu tố kết hợp với nhau phải là những yếu tố có nghĩa biểu thị khái niệm thuộc cùng một phạm trù (có quan hệ gần nghĩa, đồng nghĩa hoặc trái nghĩa). Từ ghép hợp nghĩa có quá trình tổ chức lại các yếu tố ngữ nghĩa theo quy tắc nhất định để tạo thành nghĩa hoàn chỉnh cao hơn. Sự hợp nghĩa có quy tắc nhất định, vì thế đối với những từ có cùng cơ cấu ta có thể áp dụng chung quy tắc giải thích nghĩa.

Từ ghép hợp nghĩa có đặc điểm quan trọng là nghĩa của từng thành tố phối hợp với nhau, hợp lại với nhau tạo ra ý nghĩa chung của cả từ ghép. Nghĩa chung

của cả từ ghép bằng hoặc khái quát hơn nghĩa riêng của các thành tố cộng lại. Đó là các từ như: dưỡng nuôi, nuôi dưỡng, đàm tiếu, đệ huynh, giang hà, giang hồ, giang san/ giang sơn, nghĩa nhân/ ngãi nhân/ ngãi nhơn/ nghĩa nhơn/ ngỡi nhân, nhân nghĩa/ nhân ngãi/ nhân ngỡi/ nhơn ngãi/ nhơn nghĩa, nghĩa tình, nhật nguyệt, phu phụ, phu thê, phụ mẫu, phụ tử, sơn cước, sơn hà, sơn khê, sơn lâm, thủy hỏa, tiền tài, tình nghĩa, ái ân, hiệp tan, hợp tan, nhớ thương, sanh tử, tử sanh, thạnh suy, chính tà, hiếu trung, phú quý, quyền quý/ quyền quới, thị phi, thủy chung, xung khắc v.v…

Chẳng hạn, từ giang sơn có nghĩa rộng hơn, khái quát hơn nghĩa của các thành tố cộng lại. Giang là sông, sơn là núi. Sông và núi tượng trưng cho lãnh thổ của dân tộc sống và làm chủ trên đó, nên giang sơn có nghĩa là đất nước. Giang sơn còn có nghĩa chỉ tất cả những gì mình có. Như vậy, nghĩa của giang sơn khái quát hơn nghĩa của giang + sơn.

Từ phu phụ có nghĩa là chồng vợ, trường hợp này nghĩa của phu phụ bằng nghĩa của phu + phụ.

a2. Từ ghép Hán Việt phân nghĩa

Từ ghép phân nghĩa, xét về quan hệ ngữ pháp còn gọi là từ ghép chính phụ.

Từ ghép Hán Việt phân nghĩa có một yếu tố chỉ loại sự vật, hiện tượng lớn, yếu tố còn lại có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng cụ thể. Đó là các từ như: gia cang, gia đàng/ gia đường, gia tài, hành khách, hiền thê, học trò, hữu duyên, khách du, lê viên, loan phòng, ngư phủ, nho sĩ, nữ nhân, nữ phòng, song thân, trượng phu, tư tình, an bài, an giấc, an tình, hồi hương, hồi quân, phụ nghĩa, phụ tình, bạc nghĩa, bạc phận, bạc tình, đa tình, vô phúc, vô phước, vô tình, vô tội, vô ý v.v...

Căn cứ vào yếu tố mang nghĩa chỉ loại và yếu tố có tác dụng phân nghĩa, có thể chia từ ghép Hán Việt phân nghĩa thành hai loại: từ ghép Hán Việt phân nghĩa có yếu tố chỉ loại đứng trước và từ ghép Hán Việt phân nghĩa có yêu tố chỉ loại đứng sau:

Từ ghép Hán Việt phân nghĩa có yếu tố chỉ loại đứng trước: phụ nghĩa, phụ tình, bạc nghĩa, bạc phận, bạc tình, sầu ái, sầu tư, vô phúc, vô phước, vô tình, vô tội, vô ý v.v...

Từ ghép Hán Việt phân nghĩa có yếu tố chỉ loại đứng sau: hành khách, hiền thê, học trò, lê viên, loan phòng, ngư phủ, nho sĩ, nữ nhân, nữ phòng v.v...

Như vậy, xét về quan hệ nghĩa giữa các thành tố trong từ ghép, nếu các thành tố kết hợp lại tạo ra nghĩa khái quát ta có từ ghép hợp nghĩa; nếu các thành tố kết hợp với nhau mà một thành tố mang nghĩa khái quát, thành tố còn lại phân chia hạn định thành tố mang nghĩa khái quát ta có từ ghép phân nghĩa. Từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa chính là từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ theo cách phân loại dựa trên tiêu chí cấu tạo.

b. Từ ghép Hán Việt nhìn từ tiêu chí cấu tạo

Dựa vào đặc điểm cấu tạo của các thành tố về mặt cú pháp, từ ghép Hán Việt được chia thành hai loại: từ ghép Hán Việt đẳng lập và từ ghép Hán Việt chính phụ.

b1. Từ ghép Hán Việt đẳng lập

Từ ghép Hán Việt đẳng lập là loại từ ghép được tạo thành bởi các yếu tố đồng loại, theo quan hệ bình đẳng, ngang nhau về mặt ngữ pháp. Đó là các từ như:

cang thường, cốt nhục, danh vọng, dung nhan, duyên nợ, duyên tình, đệ huynh, giang hà, giang hồ, giang sơn/ giang san, kim thạch, loan phụng, nghĩa nhơn/ ngãi nhân/ ngãi nhơn/ ngỡi nhân, nhân nghĩa/ nhân ngãi/ nhân ngỡi/ nhơn ngãi/ nhơn nghĩa, nghĩa lý, nghĩa tình, nguyệt hoa, nhân tình/ nhơn tình, nhật nguyệt/ nhựt nguyệt, nhơn đạo, phu phụ, phu thê, phụ mẫu, phụ tử, phụng loan, sơn cước, sơn hà, sơn khê, sơn lâm, thủy hỏa, tiền tài, tình nghĩa, trí tài, ái ân, ân ái, biệt ly, dưỡng nuôi, nuôi dưỡng, đàm tiếu, hiệp hòa, hiệp tan/ hợp tan, ly biệt, nhớ thương, oán hận, oán thù, sanh tử, tử sanh, thác vong, thạnh suy, bần cùng, bình an, bình yên, chính tà, cơ cực, cơ hàn, hiếu hạnh, hiếu trung, phú quý, quyền quý/ quyền quới, thị phi, thịnh trị, thủy chung, xung khắc v.v…

b2. Từ ghép Hán Việt chính phụ

Từ ghép Hán Việt chính phụ là loại từ ghép được tạo thành bởi một thành tố chính và một thành tố phụ, giữa thành tố chính và thành tố phụ có quan hệ phụ thuộc một chiều, thành tố phụ phụ thuộc vào thành tố chính. Đó là các từ như: âm cung, âm phủ, ấu tử, bắc đẩu tinh, bộ hành, bổn phận, căn duyên, căn nguyên, căn phần, chí sĩ, cô hồn, cô phòng, dân phu, diêm đình, gia cang, gia đàng/ gia đường, gia tài, hành khách, hiền thê, hỏa lò, học trò, khách du, lê viên, liệt nữ, loan phòng, ngư phủ, nho sĩ, nữ nhân, nữ phòng, nữ thanh, phòng hạnh, phòng huỳnh, phòng loan, phu quân, quốc ngữ, tân hôn, thạch lân, thâm ý, thiên đình, thiên lý mã, thục nữ, trượng phu, tứ diện, tứ giăng, tứ hải, tứ linh, tứ phía, tứ phương, tứ quý, tứ sắc, an bài, an giấc, an tình, hồi hương, hồi quân, hội ngộ, đồng tâm, đồng thân, vô cớ, vô duyên, vô giá, vô nghì, vô phúc, vô phước, vô tình, vô tội, vô ý v.v...

Từ ghép Hán Việt chính phụ được chia thành hai loại: từ ghép chính phụ Hán Việt có thành tố phụ đứng trước, thành tố chính đứng sau và từ ghép chính phụ Hán việt có thành tố chính đứng trước, thành tố phụ đứng sau.

Từ ghép Hán Việt chính phụ có cấu tạo phụ trước chính sau là loại từ ghép Hán Việt mà yếu tố đứng sau là yếu tố chính (chỉ sự vật chính), yếu tố đứng trước hạn định yếu tố đứng sau. Đây là loại từ ghép có cấu tạo tiêu biểu theo Hán ngữ nhưng lại ngược với trật tự cú pháp tiếng Việt. Chẳng hạn, các từ như: ấu tử, bắc đẩu tinh, bộ hành, bổn phận, chí sĩ, cô hồn, cô phòng, gia tài, hành khách, hiền thê, hỏa lò, học trò, lê viên, liệt nữ, ngư phủ, nho sĩ, nữ nhân, nữ phòng, quốc ngữ, tân hôn, thạch lân, thiên đình, thiên lý mã, thục nữ, trượng phu.

Từ ghép Hán Việt chính phụ có cấu tạo chính trước phụ sau là loại từ ghép mà các yếu tố cấu tạo nên nó theo trật tự thuận của ngữ pháp tiếng Việt. Đó là các từ như: căn duyên, căn nguyên, căn phần, hồi hương, hồi quân, đồng tâm, đồng thân, vô cớ, vô duyên, vô giá, vô nghì, vô phúc, vô phước, vô tình, vô tội, vô ý.

c. Từ ghép Hán Việt nhìn từ tiêu chí ngữ pháp

Về khả năng hoạt động ngữ pháp, từ ghép Hán Việt được chia thành ba loại:

từ ghép Hán Việt là danh từ, từ ghép Hán Việt là động từ và từ ghép Hán Việt là tính từ.

c1. Từ ghép Hán Việt là danh từ

Từ ghép Hán Việt là danh từ là những từ được cấu tạo bởi hai yếu tố vốn là danh từ đơn tiết Hán Việt, trong ca dao Nam Bộ, chúng cũng xuất hiện với tư cách là những danh từ ghép Hán Việt. Đây là từ loại chiếm số lượng nhiều nhất so với các từ loại khác trong ca dao Nam Bộ. Đó là các từ như: am tự, anh hào, anh hùng, âm cung, âm phủ, ân tình, ấu tử, ba đào, bá hộ, bá quan, ban sơ, bắc đẩu tinh, biệt tài, bình phong, bổn phận, cang thường, cao ly, ngưu hoàng, căn duyên, căn nguyên, căn phần, chí sĩ, cô hồn, cô phòng, công lao, công tử, cốt nhục, cơ đồ, cơ nghiệp, cửu chương, cửu lý hương, cửu trùng đài, danh lợi, danh vọng, dặm trường, dân phu, diêm đình, dung nhan, dương gian, dương trần, duyên nợ, duyên tình, đệ huynh, đồng bào, đồng nội, đức hạnh, gia cang, gia đàng, gia đường, gia tài, giá thú, giang hà, giang hồ, giang sơn/ giang san, giang tân, hành khách, hiền thê, hình dung, hiệp cẩn, hỏa lò, hoạn lộ, học trò, hồng nhan/ hường nhan, huê tình, huỳnh tuyền, keo sơn, kim lang, kim ngân, kim ngọc, kim thạch, kỷ cang, ký lục, lê viên, lễ nghi, liệt nữ, loan châu, loan phòng, loan phụng, lương duyên, mẫu đơn, mẫu thân, mẫu từ, mưu kế, nam nhi, nam tử, ngãi nhân/ ngãi nhơn/ nghĩa nhơn/ ngỡi nhân, nghĩa lý, nghĩa tình, ngọc hoàng, ngũ luân, ngũ sắc, nguyệt bạch, nguyệt hoa, ngư phủ, ngư thủy, ngưu hoàng, nhan sắc, nhân hiền, nhân nghĩa/ nhân ngãi/ nhân ngỡi/ nhơn ngãi/ nhơn nghĩa, nhân tình/ nhơn tình, nhật nguyệt/ nhựt nguyệt, nhi nữ, nho sĩ, nhơn đạo, nữ nhân, nữ nhi, nữ phòng, oai linh, oanh ương, ô mã, ô thước, phàm trần, phật thủ, phòng hạnh, phòng huỳnh, phòng loan, phu phụ, phu quân, phu thê, phụ mẫu, phụ tử, phụng hoàng/ phượng hoàng, phụng loan, quả báo, quan khách, quân tử, quý nương, quốc ngữ, quý nhân, quý vật, sính nghi, song loan, song thân, sơn cước, sơn hà, sơn khê, sơn lâm, sơn trường, sui gia, tam cấp, tam

công, tam tòng/ tam tùng, tao khang/ tao khương/ tào khương, tạo hoá, tâm sự, tâm tình, tân hôn, thạch lân, thâm ý, thế gian, thế sự, thế thường, thiên đình, thiên hạ, thiên lý mã, thiên tào, thục địa, thục nữ, thư bộ, thượng uyển, thủy hỏa, thủy tinh, thuyền quyên, tiền nhật/ tiền nhựt, tiền tài, tình ái, tình chung, tình nghĩa, tình thương, tọa đăng, tri âm, tri kỷ, trí tài, trượng phu, tùng giả, tư tình, từ đường, từ mẫu, tứ bề, tứ chiếng, tứ diện, tứ giăng, tứ hải, tứ linh, tứ phía, tứ phương, tứ quý, tứ sắc, tứ túc, tự nhiên, vạn lý lân, văn chương, văn minh, vân vi, vận hạn, võ môn, xạ hương, yến anh v.v…

Tất cả những từ trên, ý nghĩa ngữ pháp đều bộc lộ rõ ràng, không cần dựa vào ngữ cảnh cũng có thể biết đó là danh từ. Tuy nhiên, có ba trường hợp phải dựa vào ngữ cảnh mới biết được, đó là các từ: công phu, gian lao và gian nan.

Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính, không biến đổi về mặt hình thái. Do không có những chỉ tố hình thái để phân định từ loại, nên để biết được từ loại của từ tiếng Việt phải dựa vào khả năng kết hợp của chúng. Từ công phu, gian lao và gian nan có thể là danh từ hoặc tính từ. Đây là hiện tượng mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhất từ đa loại. Từ ghép Hán Việt công phu, nếu là danh từ thì có nghĩa công sức và thì giờ bỏ ra, thường là nhiều, để làm việc gì (mất nhiều công phu); nếu là tính từ có nghĩa là rất kĩ lưỡng, độc đáo, mất nhiều công sức (chiếc tủ được chạm trổ rất công phu). Trong ca dao Nam Bộ, từ công phu được dùng với nghĩa của từ loại danh từ:

Lên chùa thấy Phật muốn tu, Về nhà thấy mẹ, công phu chưa đền.

Từ gian lao có nghĩa là những nỗi khó khăn gian khổ (nói khái quát), trong ca dao Nam Bộ nó được dùng với nghĩa của từ loại danh từ:

Miễn bậu chịu ừ, qua chẳng từ lao khổ, Dẫu đăng sơn tróc hổ hay quá hải đồ long,

Trước sau giữ trọn một lòng, Gian lao chi sá, anh quyết cùng theo em.

Tương tự, từ gian nan có nghĩa là ở trong cảnh ngộ gặp nhiều khó khăn phải vượt quacũng được dùng với từ loại danh từ trong ca dao Nam Bộ.

c2. Từ ghép Hán Việt là động từ

Từ ghép Hán Việt là động từ là những từ được cấu tạo bởi hai yếu tố vốn là động từ đơn tiết Hán Việt, trong ca dao Nam Bộ, chúng cũng xuất hiện với tư cách là những động từ ghép Hán Việt. Đây là từ loại chiếm số lượng nhiều thứ hai sau danh từ. Đó là các từ: ái ân, ân ái, an bài, an giấc, an vui, báo hiếu, biệt ly, bộ hành, cầu hôn, cầu thân, chia ly, chiêm bao, chung tình, cưu mang, dưỡng dục, dưỡng nuôi, đa mang, đàm tiếu, đăng sơn, đầu thai, đoái hoài, đối diện, giải sầu, giao duyên, giao hòa, giao hoan, giao ngãi, giao ngôn, giao ước, giáp mặt, hiệp hòa, hiệp tan/ hợp tan, hoài vọng, hoạn dưỡng, hồi hương, hồi quân, hội ngộ, huyễn hoặc, kết duyên, kết nghĩa/ kết ngãi, lâm nguy, lập nghiệp, lưu lạc, lưu luyến, lưu tồn, lưu truyền, ly biệt, mưu tính, ngao du, nhớ thương, niêm phong, nuôi dưỡng, oán hận, oán thù, phân giải, phân ly, phân tình, phân trần, phụ bạc, phụ nghĩa, phụ phàng, phụ tình, phụng dưỡng, phụng thờ, quá giang, quyến luyến, sa cơ, sanh dưỡng, sinh thành/ sanh thành, sanh tử, tử sanh, tái thế, thác vong, thạnh suy, thất kinh, thất thế, thoái hồi, thối lui, thối nan, thông ngôn, thủ tiết, tố hộ, trang điểm, tung hoành, tự ải, tương trợ, tương tư, ưu phiền, vãng lai, vần vũ, vấn vương, vinh quy, vu quy, vương vất, xuất giá v.v…

c3. Từ ghép Hán Việt là tính từ

Từ ghép Hán Việt là tính từ là những từ được cấu tạo bởi hai yếu tố vốn là tính từ đơn tiết Hán Việt, trong ca dao Nam Bộ, chúng cũng xuất hiện với tư cách là những tính từ ghép Hán Việt. Đây là từ loại chiếm số lượng nhiều thứ ba sau danh từ và động từ. Đó là các từ: anh dũng, ảo não, bạc nghĩa, bạc phận, bạc tình, bần cùng, bất hiếu, bình an, bình yên, cao cường, cần mẫn, chính chuyên, chính tà, cô đơn, cơ cực, cơ hàn, đa tình, đoạn trường, độc địa, đôn hậu, đồng tâm, hằng hà (hằng hà sa số), hiểm nghèo, hiểm nguy, hiền lương, hiển vinh, hiệp ý, hiếu hạnh, hồ đồ, huyên thiên, hữu tình, hữu ý, khôi hài, khốn nạn, lạc loài, lao khổ, lịch sự, linh thiêng, lỡ thời, mãn kiếp, minh bạch, mồ côi, mỹ miều, nan phân, nhãn tiền,

nhân hậu/ nhơn hậu, nhu mì, oai hùng, phì nhiêu, phiền não, phong lưu, phũ phàng, phú quý, quyền quý/ quyền quới, sầu ái, sầu bi, sầu muộn, sầu não, sầu tư, song toàn, tận tình, thảm sầu, thanh tân, thâm trầm, thất tình, thị phi, thịnh trị, thông minh, thơ ấu, thuần hậu, thủy chung, tiên phuông, tội nghiệp, trứ danh, u uất, vinh hiển, vinh huê, vô cớ, vô duyên, vô giá, vô phúc, vô phước, vô tình, vô tội, vô ý, xung khắc, yểu điệu v.v...