TÔN KÍNH – KHIÊM NHƯỜNG GIỮA TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT
2.1 Sự tương đồng trong cách nói tôn kính – khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt
2.1.1 Sự tương đồng trong cách nói tôn kính .1 Đối tượng giao tiếp
1 Mối quan hệ trên – dưới:
Địa vị: cấp trên – cấp dưới; giáo viên – học sinh Tuổi tác: người trên – người dưới
Sự quan hệ bình đẳng với nhau và sự tôn kính lẫn nhau dường như đã trở thành những yếu tố cơ bản trong cách đối xử và trong các mối quan hệ con người. Nhưng nếu ý thức được vị trí của mình và đối tượng giao tiếp có sự khác nhau thì nhất thiết phải bổ sung thêm những yếu tố để thể hiện sự khác nhau đó. Yếu tố được đề cập đến ở đây là kính ngữ. Trong đó, cách nói tôn kính được sử dụng để giao tiếp với người trên, người lớn tuổi vì nó có thể bổ sung cho sự khác nhau về địa vị xã hội và tuổi tác của người dưới đối với người trên, cấp dưới đối với cấp trên, hậu bối đối với tiền bối…
Ví dụ dưới đây là đoạn hội thoại giữa giáo viên và sinh viên, đây là hai đối tượng giao tiếp thuộc hai vị trí và địa vị xã hội khác nhau.
Kurasumeto no taikai ga aru. Kondo kikoku suru gakusei ga iru node, raishuu no nichiyoubi ni sayonara pati wo hiraku koto ni natta. Aru gakusei wa sensei wo sasou.
(Có một buổi họp lớp. Lần này vì có một sinh viên trong lớp về nước nên sẽ tổ chức một buổi tiệc chia tay vào chủ nhật tuần sau. Một học sinh nọ đã mời thầy giáo cùng tham dự).
Học sinh: “Ano, sensei chotto yoroshi deshou ka…”
(Thầy ơi, cho em làm phiền thầy một chút được không ạ?) Thầy giáo: “A, douzo”.
(Ừ, em nói đi)
Học sinh: “Jitsu wa raishuu no nichiyoubi, uchi de pati wo shiyou to omotteirun desu”.
(Thưa thầy, thực ra thì vào ngày chủ nhật tuần sau lớp em có tổ chức một bữa tiệc họp lớp tại nhà em ạ).
Thầy giáo: “A, ii desu ne”.
(Thế à, được đấy nhỉ).
Học sinh: “De, sensei, yoroshikattara, oideitadakenai ka to omoimashite. Mousugu kuni he kaeru hito mo imasu shi…”
(Thưa thầy, nếu được, chúng em mời thầy đến dự chung với chúng em ạ. Bởi vì hôm đó sẽ có bạn về nước ạ…).
Thầy giáo: “Nichiyoubi desu ne. Ee, daijoubu desu yo”.
(Chủ nhật à, được đấy, thầy sẽ đến dự).
Học sinh: “Aa, yokatta desu. Minna yorokobu to omoimasu. De, sensei niwa 6 ji goro ni oideitadakitaindesu ga…”.
(Ôi, như vậy thật tốt quá. Em nghĩ chắc chắn các bạn sẽ rất vui. Thưa thầy, nếu được, thầy vui lòng đến vào khoảng sáu giờ được không ạ?).
Thầy giáo: “Wakarimashita. Nanika osake ka otsumami demo motte ikou kana”.
(Thầy biết rồi. Có lẽ thầy sẽ mang một ít rượu và thức ăn nhẹ tới nhỉ).
Học sinh: “Ieie, okizukai naku. Sore dewa tanoshimi ni shite orimasu”.
(Ôi không cần đâu thầy ơi, thầy đừng bận tâm. Có thầy đến tham dự là chúng em rất vui rồi ạ).
Trong đoạn hội thoại trên, mối quan hệ được thiết lập là mối quan hệ giữa “thầy giáo và học sinh”. Theo đó, thầy giáo là người có vị trí cao hơn học sinh nên khi nói chuyện, học sinh nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính. Chẳng hạn, “yoroshii, oideni naru, okizukai” là cách nói tôn kính của “ii (được, tốt), kuru (đến), kizukai (lo lắng, quan tâm)”. Còn khi nói về hành động hay trạng thái của mình thì học sinh sử dụng cách nói khiêm nhường như “tanoshimi ni shite orimasu” (khiêm nhường của động từ tanoshimi ni shite imasu) – mong đợi, mong chờ. Trong tiếng Việt là các hình thức sử dụng như: thưa thầy, được không ạ, ạ…là những hình thức biểu đạt
cách nói tôn kính của học sinh với thầy giáo. Tương tự, trong các mối quan hệ trên dưới khác như nhân viên - cấp trên, người dưới - người trên…thì vẫn phải sử dụng cách nói tôn kính.
2 Mối quan hệ trong – ngoài:
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng của Nho giáo, đạo Khổng. Do đó, từ ngàn xưa trong xã hội Nhật Bản đã hình thành nên những “tập đoàn”. “Tập đoàn” không phải là tập hợp những nhóm người khác nhau mà đó là tập hợp của những cá thể tồn tại tương hỗ với nhau. Từ đó, tạo ra ý thức tập đoàn và hình thành nên tập đoàn. Những cá nhân sẽ là một cá thể trong từng tập đoàn, vận mệnh của cá nhân đó sẽ phụ thuộc và gắn bó chặt chẽ vào sự phát triển và tồn tại của tập đoàn. “Tập đoàn” trong xã hội Việt Nam truyền thống được biết đến dưới khái niệm các “làng” hay các “gia tộc” (đơn vị cấu thành lớn hơn gia đình, cũng được coi là một tập đoàn). Trong làng, tính cộng đồng tạo nên sự liên kết các thành viên lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác. Vì đặc điểm này mà hình thành nên những nguyên tắc chung trong giao tiếp của hai quốc gia Việt - Nhật. Điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ là cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp. Nếu xét trong phạm vi mối quan hệ “trong – ngoài” thì nếu gặp người lớn tuổi, bậc bề trên…không thuộc “tập đoàn” hay “làng” của người nói thì sẽ sử dụng những hình thức nói tôn kính, lịch sự. Chẳng hạn, khi có khách đến chơi (người khách không phải là thành viên trong gia đình và đương nhiên không cùng một “tập đoàn” với người nói) thì người nói sẽ mời nước: “Ocha, douzo meshiagatte kudasai”
(Xin mời quý khách dùng trà). Đây là cách nói tôn kính người khách trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Cách nói này sử dụng những danh từ tôn kính (ocha – trà ngon, quý khách…) và động từ tôn kính (meshiagatte kudasai - uống, xin mời, dùng…).
Ngược lại, cách nói thể hiện thái độ khinh miệt, không tôn kính người khách sẽ là:
“Nonde kudasai!” (Uống đi). Cách nói này sẽ làm người khách cảm thấy không hài lòng và đánh giá người nói là người không được dạy bảo đàng hoàng, không có văn hóa giao tiếp cũng như không hiểu những nguyên tắc giao tiếp cơ bản.
3 Mối quan hệ thân – sơ:
“Thân” trong nghĩa Hán Việt chỉ mối quan hệ con người thân thiết, thân mật.
“Sơ” chỉ mối quan hệ con người không thân thiết, người lần đầu tiên gặp mặt hay những người chỉ có mối quan hệ xã giao thông thường. Dựa theo ý nghĩa này mà trong cách giao tiếp của người Nhật và người Việt xét trong phạm vi cách nói tôn kính cũng có những điểm tương đồng. Do đó, trong quá trình giao tiếp, nếu đối tượng giao tiếp là người lần đầu tiên gặp mặt hoặc không quen thân thì người Nhật và người Việt thường lựa chọn những hình thức nói tôn kính, lịch sự. Việc truyền đạt ý tôn kính của người nói đến người nghe là điều cơ bản trong kính ngữ. Đối với những người mới gặp lần đầu, những người giao thiệp trong công việc, cho dù là người cùng tuổi hay nhỏ tuổi hơn nếu không sử dụng cách nói biểu hiện sự tôn kính thì sẽ bĩ cho rằng thất lễ. Nếu đối tượng giao tiếp là người lớn tuổi hơn thì nhất thiết phải nói tôn kính. Chẳng hạn, khi hỏi về công ty của khách hàng thì hình thức câu hỏi sẽ là: “Sumimasen ga, kisha wa dochira ni gozaimasu ka?” (Xin phép cho tôi hỏi, quý công ty ở đâu ạ?”. Trong đó, những hình thức từ tôn kính như “kisha – quý công ty”, “gozaimasu – có ở ~”. Nếu nhân viên hỏi bằng hình thức câu thông thường, thậm chí là thân mật, suồng sã như “Kaisha wa doko?” (Công ty ở đâu vậy?) thì sẽ bị cho là không lịch sự, không có thái độ tôn trọng người khác. Như vậy, sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín và “bộ mặt” của công ty. Chính vì vậy, văn hóa giao tiếp của nhân viên (văn hóa kinh doanh) đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của công ty.
2.1.1.2 Hoàn cảnh giao tiếp
Cách nói tôn kính là cách nói thể hiện sự kính trọng những người có tuổi tác cao, những người có vị thế lớn, những người có uy tín trong mối tương quan với người nói. Do đó, người nói phải biết tính toán, lựa chọn những từ ngữ xưng hô trang trọng, hợp chuẩn phù hợp với vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ thân – sơ giữa người nói và người đối thoại. Nếu sử dụng những cách nói không lễ phép với người vai bậc trên, những người có uy tín dễ dẫn đến thái độ vô lễ (hay xấc xược,
hỗn láo). Trong quá trình giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cách xưng hô của các nhân vật giao tiếp.
Bởi vì căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp, người nói có thể lựa chọn cách xưng hô tôn kính, trang trọng (hội nghị, tọa đàm…) hay cách xưng hô thân mật (bạn bè, người thân…). Yếu tố này được thể hiện khá rõ trong cách nói tôn kính của tiếng Nhật và tiếng Việt.
Ví dụ: Trong trường hợp nhân viên Yamada lần đầu tiên đến thăm nhà của trưởng phòng.
Yamada: “Gomenkudasai”
(Yamada: Xin lỗi, có ai ở nhà không ạ?)
Tanaka kacho fujin: “A, Yamada san desu ne. Hajimemashite. Tanaka no kanai desu”.
(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: A, anh Yamada. Xin chào. Tôi là vợ của Tanaka) Yamada: “Hajimemashite. Honjitsu wa omanekikudasatte, arigatou gozaimashita”.
(Yamada: Xin chào. Rất cám ơn vì lời mời của ông bà)
Tanaka kacho fujin: “Shujin ga istumo osewa ni natte orimasu. Saa, douzo, oagarikudasai”.
(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Tôi cũng rất cám ơn vì anh đã quan tâm đến chồng tôi. Xin mời vào).
…………
Tanaka kacho fujin: “Douzo okakekudasai”
(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Xin mời anh ngồi)
Yamada: “Arigatou gozaimasu. Ano, kore tsumaranaimono desu ga, douzo”
(Yamada: Cám ơn. Nhân đây tôi cũng có chút quà mọn biếu anh chị) Tanaka kacho fujin: “Goteinei ni doumo. Jaa, itadakimasu”
(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Xin cảm ơn vì sự chu đáo của anh. Vâng, tôi xin nhận)
………..
Tanaka kacho fujin: “Kyou wa takusan ryouri wo tsukurimashitara, douzo enryonasanaide meshiagatte kudasai”.
Yamada: “Enryonaku itadakimasu. Okusan ga otsukuri ni nattan desu ka?”
(Yamada: Vâng, tôi xin phép được dùng. Quý phu nhân đã làm thức ăn phải không ạ?”)
……….
Đoạn hội thoại trên được xét trong hoàn cảnh giao tiếp là cuộc gặp gỡ lần đầu tiên tại nhà của trưởng phòng. Vì trưởng phòng là cấp trên nên trong mọi lời nói và hành động của cấp dưới (anh Yamada) đều mang sắc thái và ý nghĩa tôn kính. Ngoài ra trong một số câu nói còn sử dụng cách nói khiêm nhường cho hành động của bản thân (itadakimasu, tsumaranai mono desuga…) để tôn kính trưởng phòng và phu nhân trưởng phòng một cách gián tiếp. Bên cạnh đó, người vợ của trưởng phòng cũng sử dụng cách nói tôn kính anh Yamada. Vì đây là lần đầu tiên hai người gặp mặt, hơn nữa anh Yamada là người thuộc mối quan hệ “bên ngoài” (không thuộc gia đình). Những cách nói tôn kính được sử dụng: oagarikudasai, meshiagatte kudasai, okusan, otsukuri ni nattan desu ka….Ngoài ra, trong một số hoàn cảnh giao tiếp khác như trực điện thoại, tiếp khách hàng, phát biểu…thì nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính với đối tượng giao tiếp.
2.1.1.3 Thái độ của người nói
Kính ngữ là một cách nói, hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa bắt người sử dụng phải thốt ra thành lời. Cho dù trong lòng có tỏ ra kính trọng và có ý tôn kính đối tượng giao tiếp như thế nào đi nữa nhưng nếu không thốt ra thành lời tôn kính thì cũng không có ý nghĩa gì cả. Ngược lại cho dù người nói có sử dụng thành thạo cách nói tôn kính nhưng không thể hiện thái độ kính trọng đối tượng giao tiếp thì cách nói này cũng chỉ là cách nói ở mức độ “sách vở”. Cũng có trường hợp cho rằng những lời nói tôn kính của người nói cũng chỉ là giả dối để đạt được một hiệu quả giao tiếp nào đó.
Nếu nói ra những lời tôn kính, lịch sự mà nghĩ rằng như vậy là đã thể hiện sự tôn kính thì đó là một cách nghĩ sai. Vì cách nói tôn kính không đơn thuần phát huy hiệu quả giao tiếp nếu chỉ sử dụng những lời nói tôn kính “một chiều”.
Ví dụ: Một robot có dáng dấp của con người đứng trước quầy bán hàng và nói:
“Irassaimase, kochira wa shoseki uriba degozaimasu”.
(Xin kính chào quý khách, đây là quầy sách vở).
Hoặc, một cô tiếp tân phụ trách hướng dẫn khách hàng sử dụng thang máy.
Trong khi mắt cô ấy không hướng về phía thang máy nhưng miệng thì luôn nói những từ tôn kính, lịch sự với khách hàng và tay chỉ về phía thang máy lần lượt hết người khách này đến người khách khác. Có người cho rằng cô tiếp tân hướng dẫn này không khác gì một robot. Lúc này khách hàng (cả trong ví dụ ở trên) cảm thấy mình không được tôn trọng và nghĩ rằng mình bị coi thường. Đây là hiệu quả ngược torng cách nói tôn kính. Lý do mà khách hàng cảm thấy họ không được tôn trọng và bị coi thường là vì những lời mà robot và cô tiếp tân nói chỉ tồn tại đơn lập. Cái thiếu ở đây là “thái độ” của người nói. Do đó, tuy có sử dụng lời nói tôn kính nhưng lại không đi cùng với việc biểu hiện thái độ và không có yếu tố tình cảm.
Người sử dụng kính ngữ muốn biểu hiện tâm trạng tôn kính của mình với người khác chắc chắn sẽ nói ra những lời kính trọng. Trong đó, tâm trạng tôn kính rất cần thiết khi nói kính ngữ. Bởi vì trước khi nói những lời tôn kính thì người nói phải có suy nghĩ là thật lòng tôn kính đối tượng giao tiếp. Như vậy, cho dù có nói ra toàn là những lời tôn kính tuyệt vời nhưng trong lòng không có thành ý tôn kính thì không thể truyền đến người khác ý tôn kính của mình. Miệng thì nói những lời tôn kính nhưng lại không biểu hiện ý tôn kính trong giọng điệu và thái độ thì cũng không làm cho người khác cảm thấy được tôn trọng. Do đó, kính ngữ rất khó nói, vì đó là cách nói không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn thể hiện bằng cả tấm lòng. Nếu như biểu lộ ý tôn kính mà làm cho người nghe cảm thấy không hài lòng, không thoải mái thì cũng giống như câu tục ngữ của Việt Nam là “Vẽ rồng mà không điểm nhãn”. Câu tục ngữ có nghĩa là làm một việc gì đó nhưng chỉ đạt hiệu quả một nữa, không trọn vẹn. Chính vì vậy, để đạt được hiệu quả của cách nói tôn kính lên mức tối cao,
người sử dụng không chỉ phải thành thạo cách sử dụng mà còn phải thể hiện bằng thái độ tôn kính chân thành. Như vậy sẽ tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau.