TÔN KÍNH – KHIÊM NHƯỜNG GIỮA TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT
2.2 Sự khác biệt trong cách nói tôn kính – khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt
2.2.2 Sự khác biệt trong cách nói khiêm nhường .1 Đối tượng giao tiếp
2.2.2.2 Hình thức biểu hiện
1 Cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật:
Hình thức thêm O / Go vào danh từ và hình thức liên dụng của động từ O / Go ~ suru / itasu
Ví dụ: “Shuppatsu jikan ga ichi jikan kurisageraremashita node, minasama ni sono mune gorenraku itashimashita”
(Vì giờ xuất phát đã bị hoãn lại một tiếng. Tôi đã thông báo tin này cho mọi người) O / Go ~ moushiageru
Ví dụ: “Eigyo no Tamura degozaimasu. Yoroshiku onegai moushiagemasu”
(Tôi là Tamura ở phòng doang nghiệp. Mong nhận được sự gúp đỡ của ngài) O / Go ~ itadaku
Ví dụ: “Chotto omochitadakereba, sugu naoshiitashimasu”
(Nếu được anh chờ cho một chút, tôi sẽ sửa lại liền)
……….
Một số hình thức động từ khiêm nhường khác như: iku (đi) / kuru (đến) mairu, iru oru (ở), suru itasu (làm), taberu (ăn) / nomu (uống) itadaku….
2 Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt:
Vì tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ không biến hình (khác với tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ biến hình) nên để thể hiện ý đồ trong giao tiếp như cách nói tôn kính, cách nói khiêm nhường thì người nói phải biết lựa chọn những từ ngữ mang sắc thái khiêm tốn, lễ độ cùng các phương thức ngữ pháp hợp chuẩn.
Cặp xưng hô hợp chuẩn của giáo viên với học sinh thường là thầy – em, cô – em, thầy – tên riêng, cô – tên riêng, thầy – các em, cô – các em…nhưng trong lớp học hiện nay ở nhiều trường, giáo viên thường xưng hô một cách khiêm nhường với học sinh như tôi – em, tôi – các em, tôi – các anh / các chị, tôi – các bạn, tôi – tên riêng…
Chẳng hạn, khi bố mẹ xưng hô với con cái sử dụng các cặp từ xưng hô: bố - con, mẹ - con…là họ đã nhấn mạnh đến quan hệ quyền lực và thân thiện. Khi con cái đã trưởng thành, bố, mẹ thường chuyển sang xưng hô với con bằng các cặp từ xưng hô:
tôi – anh, tôi - chị…là họ đã nhấn mạnh đến sự bình đẳng hơn (khiêm) nhưng cũng có khoảng cách trong mối quan hệ với con cái.
Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt không thể hiện rõ ở các hình thức xưng hô như trong tiếng Nhật. Thay vào đó là việc sử dụng các hình thức từ ngữ, câu nói, cấu trúc ngữ pháp …trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Chẳng hạn, khi trả lời câu hỏi của người khác về các con trong gia đình, người mẹ đã nói:
A: “Okosan mo mina san ookiku narareta deshou ne”
(Các con của chị tất cả đều lớn hết rồi nhỉ)
B: “Ee, ichiban ue no musuko wa kotoshi daigaku wo sotsugyo shite, kaisha ni iremashita, mannako no musuko wa daigaku ichinen, musume wa koko sannen, shita no ko wa koko ichinen ni narimashita”
(Vâng, đứa con trai lớn của tôi đã tốt nghiệp đại học và đi làm, đứa con trai giữa thì đang học đại học năm nhất, đứa con gái kế thì học lớp 12 và đứa con trai út thì học lớp 10)
B Nếu xét về đại từ nhân xưng khiêm nhường thì tiếng Nhật thể hiện rõ hơn tiếng Việt. Chẳng hạn, trong đoạn hội thoại trên, người mẹ trả lời về các con mình bằng các đại từ xưng hô khiêm nhường: musuko – con trai (tôn kính: musuko san / musuko sama), musume – con gái (musume san / musume sama). Trong tiếng Việt chỉ dùng chung là “con trai tôi, con gái tôi”. Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào việc sử dụng các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt thì không thể xác định được cách nói khiêm nhường. Vì thế cần phải căn cứ vào cấu trúc câu, trật tự từ, từ ngữ sử dụng…để phán đoán cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt.
Ví dụ: khi người khách đến chơi và nhìn thấy những món đồ trang trí được làm bằng tay rất tỉ mỉ đặt ở trong tủ và hỏi chủ nhà:
A: “Kore wa suteki desu ne. Doko de kaimashita ka”
(Những cái này dễ thương quá nhỉ. Anh mua nó ở đâu vậy) B: “A, Sore wa minna kanai ga tukutte orimashita”
(À, những cái này thì tất cả đều do vợ tôi làm)
A: “Sodesu ka. Okusan wa ojouzu desu ne. Gejitsuka no you desu ne”
(Thế à, vợ anh khéo tay quá. Giống như một nghệ sĩ vậy) B: “Ieie, kanai ga mada heta desu. Motto ganbatte orimasu”
(Không đâu ạ, nhà em còn vụng về lắm. Và còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa) B Từ khiêm nhường: kanai (nhà tôi, bà xã tôi…), câu thể hiện sự khiêm nhường
“Kanai ga mada heta desu. Motto ganbatte orimasu”. Cách nói này thể hiện sự khiêm tốn, nhún nhường của người nói khi được ai đó khen ngợi. Nếu không thể hiện sự khiêm tốn thì người nói sẽ trả lời “Arigatou gozaimasu. Hontou ni jouzu desu ” (Vâng, cảm ơn anh đã quá khen. Quả thật là vợ tôi rất giỏi và khéo léo). Nếu người nói trả lời bằng câu trên thì người nghe cảm thấy người này quá tự tin, và có cảm giác người nghe không được tôn trọng. Do đó, việc lựa chọn những cách nói
khiêm nhường đúng chuẩn, làm hài lòng đối tượng giao tiếp là một quá trình luyện tập, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm của người nói.
Tiếng Nhật và tiếng Việt là hai loại hình ngôn ngữ với những đặc trưng cơ bản khác nhau. Thêm vào đó, văn hóa xưng hô, văn hóa giao tiếp tuy có một số điểm tương đồng nhưng cũng có khá nhiều điểm khác biệt. Do đó, đối với người Việt Nam khi học tiếng Nhật, việc nói và sử dụng lưu loát kính ngữ trong tiếng Nhật nói riêng và tiếng Nhật nói chung là một việc làm không phải dễ. Chính vì thế, sau khi phân tích
“Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính – khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt” ở chương hai, người viết tiến hành khảo sát ý kiến của 160 sinh viên năm thứ tư (ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại học Lạc Hồng) về kính ngữ trong tiếng Nhật. Qua đó, đưa ra một số nhận xét và đề xuất về giáo trình, cách dạy, cách học, những yếu tố gây khó khăn cho sinh viên…trong việc học kính ngữ trong tiếng Nhật. Những vấn đề này sẽ được trình bày ở chương ba của luận văn.