CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI CÁ NHÂN-NỖI LÒNG TRƯỚC THỜI CUỘC
2.2. Cá nhân l ạc lõng trong xã hội hiện đại hóa
35
toàn (họ không bị xâm hại đến vỏ bọc, bảo vệ được suy nghĩ riêng của mình). Đó là mối quan hệ giữa ông giáo và con mèo trong Tôi là con mèo (chỉ mình ông giáo cho con mèo tá túc, và bảo vệ nó đến cùng dù nó rất tệ), Cậu ấm và Kiyo, Cậu ấm và Bí Đỏ trong Cậu ấm ngây thơ (nhân vật này không tiếc tình cảm cho Bí Đỏ nhưng lại rất dè chừng Nhím), chàng họa sĩ và cô gái trong Gối đầu lên cỏ(cô gái cô độc tìm thấy sự đồng cảm và thấu hiểu từ chàng họa sĩ).
Những cá nhân trong sáng tác của Soseki càng thất vọng về sự gắn bó tạm bợ bao nhiêu họ càng có nhu cầu mãnh liệt về sự gắn bó đồng cảm bấy nhiêu. Sự gắn bó giữa một nhóm người không chỉ dừng lại ở những yếu tố tương đồng đơn thuần nữa mà đòi hỏi sâu hơn ở sự đồng cảm thật sự, chính cái nhóm đó mới cho cá nhân sự tự chủ cần thiết, cá nhân thuộc về nhóm một cách tự nguyện và thoải mái chứ không do áp lực sợ lạc lõng.
Người Nhật luôn thuộc về một cộng đồng và muốn miêu tả con người chân thật nhất phải miêu tả con người ở giữa mọi người. Vì vậy sự cô đơn trong văn học Nhật Bản rất đặc biệt. Nỗi cô đơn đó không đến từ sự thờ ơ của xã hội với bản thân mà đó là bi kịch khi tự mình tách ra khỏi cộng đồng mà vốn dĩ mình thuộc về. (Người viết nhấn mạnh) Tính cố hữu của người Nhật là nỗi sợ cô đơn, Nhật Bản có lời dạy về đạo lý rằng: “Hãy tìm một tập thể mà anh thuộc về họ”. Người Nhật phủ nhận chủ nghĩa cá nhân nhưng cũng xa lạ với chủ nghĩa tập thể theo đúng nghĩa của nó. Họ sợ phải đối diện một mình với bản thân. Cuộc sống ở Nhật Bản loại trừ mọi sự tách biệt. Sự tách biệt được so với sự cô độc-và sự cô độc với người Nhật là một cái gì đó rất khủng khiếp. Các nhân vật của Soseki được miêu tả trong nhiều mối quan hệ, họ giao tiếp rất nhiều, có đầy đủ họ hàng, bạn bè, học trò nhưng họ vẫn cô đơn, giữa những người thân, họ không tìm được tiếng nói chung và cả sự thấu hiểu.
36 2.2.1. Cá nhân “không theo kịp” xã hội
Văn minh phương Tây đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của xã hội Nhật Bản. Những tòa nhà xây bằng gạch theo kiến trúc phương Tây mọc lên khắp Tokyo. Những người có địa vị được phân biệt qua Âu phục, chính quyền ban hành quy định Âu phục phải được dùng trong mọi nghi lễ chính thức. Đàn ông cắt tóc ngắn trở thành trào lưu, để cổ súy cho phong trào này có hẳn một bài hát phổ thông: Zangiri atama o tataite mireba, bunmei kaika no oto gasuru (Gõ vào đầu để tóc ngắn dội ra tiếng “văn minh khai hóa”)… (Theo Giáo sư Vĩnh Sính trong Nhật Bản cận đại ). Làn sóng Âu hóa lan tràn đến mức bất cứ cái gì của phương Tây đều được xem là sang trọng, “đúng mốt”. Nhìn vào bối cảnh xã hội như vậy, hẳn những người luôn mang nặng tinh thần dân tộc như Soseki không khỏi thấy “chướng tai gai mắt”.
Ông giáo (Tôi là con mèo) cho rằng xã hội này là tập hợp những kẻ điên, anh Kangetsu suốt ngày xách cơm theo mài viên thủy tinh, ông Meitei nghĩ rằng mình sinh ra để đi trêu chọc, đùa bỡn thiên hạ, bản tính độc ác của mụ vợ nhà Kaneda, ông Kaneda phi bình thường, đám học trò Lạc Vân quán với sự phá phách làm loạn có thể làm tiêu tan cả thế giới:
“Chỉ tính qua như vậy đã thấy khá đông bọn cùng loại, đã cảm thấy vững lòng một cách không ngờ rồi. Xã hội biết đâu chả là nơi tụ tập toàn những bọn điên với nhau. Chính cái gọi là xã hội, phải chăng là việc những thằng điên tụ tập lại, đâm chém, giằng xé nhau, chảnh chọe, chửi bới nhau, rồi tất cả gộp lại thành một tập thể, lúc tan rã, lúc thịnh vượng.
Cứ thịnh vượng lên rồi lại tan rã đi như một tế bào, và cứ thế mà sống mà tồn tại? Trong cái xã hội đó, những kẻ ít nhiều biết lý lẽ, biết phải trái lại trở thành vướng, cho nên xã hội phải làm ra một cái gọi là “nhà thương điên” để nhốt họ vào đó. Nếu vậy thì chính những người bị nhốt trong nhà thương điên tối tăm kia mới là người bình thường, còn những bọn đang nhởn nhơ phá phách ngoài xã hội, trái lại mới đúng là những thằng điên.Những người điên bị cô lập một mình thì mãi mãi bị coi là điên. Nhưng nếu họ tụ tập nhau lại thành tập thể, thành tổ chức, có lực lượng, biết đâu lại trở thành là hoàn toàn lành mạnh cũng nên.
Thiếu gì những trường hợp thằng điên nặng nhưng có tiền, có quyền, dùng tiền và quyền sai kiến những thằng điên nhẹ, hung hăng tàn bạo nhưng lại được người đời cho là tài giỏi đó thôi? Thật chẳng còn hiểu cái gì ra cái gì nữa!” [38, tr.434-435]
37
Chúng ta nhận thấy một nội hàm ý nghĩa mới trong quan niệm của Soseki về Nhóm, nhóm luôn luôn đúng, còn cá nhân với tiếng nói riêng của mình thì luôn luôn sai, mãi mãi bị vùi dập. Và hệ quả của nó đưa đến ranh giới mong manh giữa kẻ điên và người tỉnh, cái khác nhau giữa họ không phải là bản chất mà là lực lượng:
“Bất bình cũng được. Có gì không vừa lòng, tức giận xong thì tâm trạng lại bình thường trở lại. Con người ta có nhiều loại, khuyên người khác hãy giống mình thì không thể giống được. Đũa mà không cầm giống người khác thì ăn cơm hơi khó. Nhưng bánh mỳ của mình, mình cứ bẻ tùy theo ý thích là tiện nhất. Đặt may bộ Kimono ở cửa hàng may khéo thì mặc vừa người, không may gặp phải cửa hàng dở thì ít nhiều phải gắng chịu mới được.
Nhưng cuộc đời này rất kỳ diệu, bây giờ người ta mặc Âu phục nhiều vì nó hợp với phong cách người mặc. Nếu cha mẹ sinh ra mình khéo léo, phù hợp với thời thế thì hạnh phúc nhất. Nhưng nếu không may không hợp thời thế thì phải một là gắng chịu, hai là chịu cho đến khi hòa hợp được vào cuộc đời, ngoài ra không có cách nào khác cả.” [38, tr.384-385]
Nhân vật của Soseki là những nhân vật còn nặng lòng với truyền thống đang loay hoay giữa guồng quay của hiện đại hóa. Nhân vật cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) là nhân vật rất đặc biệt của Soseki, trên nền chung về những cá nhân u uất lãnh đạm và “trơ lì” trước guồng quay của xã hội thì cậu ấm là một nhân vật “năng động” thực sự. Cậu ấm là đại diện cho tinh thần võ sĩ đạo: luôn nóng nảy, thẳng thắn, muốn làm gì phải làm cho bằng được, luôn ca ngợi những gia đình samurai (nhưng cái ngầm ý sâu xa của Soseki không chỉ dừng lại ở đó, samurai đại diện cho hệ thống ý thức lâu đời của Nhật Bản, đại diện cho quyền lãnh đạo của Nhật Bản, đại diện cho thái độ ứng xử trước làn sóng Âu hóa: vừa thỏa hiệp vừa đấu tranh). Những suy nghĩ của cậu ấm là những lời bình phẩm đanh thép về xã hội:
“Ngẫm ở trên đời có những kẻ thì trâng tráo như Hề Trống, bất cứ chỗ nào, chẳng ai cần đến, hắn cũng giơ cái mặt ra, bắng nha bắng nhắng, lại có những kẻ vênh váo, mặt vắt trên vai theo kiểu “cái nước Nhật này mà không có tôi là không xong” như Nhím, rồi có những kẻ như Áo Đỏ tự đóng vai thành gã lái buôn, chuyên kinh doanh những mặt hàng làm đỏm, nước hoa, son phấn và trai lơ. Cũng có những ông Ta-nu-ki luôn mồm tuyên bố “ta đây chính là nền giáo dục biết đi, nền giáo dục khoác áo đuôi tôm”. Biết bao nhiêu loại người, biết bao nhiêu bộ mặt, ai cũng thấy mình oai mình giỏi. Vậy mà chỉ có anh Bí Đỏ này, chưa thấy ai hiền như anh. Anh hiền như một con búp bê mà người ta giữ để làm tin, hiền đến nỗi có anh mà cũng như không có”. [34, tr.143-144]
38
Chàng họa sĩ giữa không khí thoát tục cũng trăn trở về cuộc đời có quá nhiều kẻ gây phiền nhiễu: “Trên đời nhan nhản những kiểu người không ra gì. Cố chấp, độc địa, huênh hoang, khoác lác hay tủn mủn, keo kiệt. Đến nỗi người ta không hiểu được họ có mặt trên cõi đời này làm gì nữa. Nhưng số người như thế lại đông kinh khủng! Và họ cảm thấy vô cùng vinh dự khi hiện diện trong cõi phù sinh.” [37, tr.178]
Xã hội trong mắt những nhân vật của Soseki thật khó chấp nhận, nó đi ngược lại suy nghĩ và mong muốn của họ, những giá trị giả tạo, tầng lớp tư sản mới nổi mê đắm đồng tiền, thang giá trị mới đánh giá con người dựa trên năng lực cá nhân (không hề khách quan mà nhằm để phục vụ lợi ích của quốc gia). Con người cá nhân suy nghĩ và hành động theo cách riêng của mình, luôn chịu sự phê phán của người đời (như ông giáo Kushami, hay Cậu ấm, nàng Nami), không theo kịp xu hướng của xã hội hay nói chính xác hơn là họ“đứng lại trước guồng quay hiện đại hóa quá nhanh”, khi đứng lại, họ trở thành “con người bên lề” và xã hội quay lại chế nhạo họ.
2.2.2. Cá nhân sợ hãi trước dư luận xã hội
Soseki không chối bỏ quá trình hiện đại hóa nhưng không đồng tình trước một Nhật Bản “với tay” theo văn minh phương Tây. Ông đồng tình với sự khai hóa văn minh nảy sinh từ nhu cầu nội tại. Mâu thuẫn trong con người cá nhân theo quan điểm của Soseki là cá nhân tự cho mình là trung tâm, có thể sắp xếp cuộc sống của mình mà không biết rằng chính môi trường mới sắp xếp cuộc sống của họ. Vì vậy họ có tâm lý mâu thuẫn cho rằng mình không để ý đến người khác nói gì cứ làm theo ý mình nhưng lại u uất, dè chừng khi xã hội phản ứng xấu về họ.
Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) qua những lời kể về chiến tích của mình, thoạt trông là một người không để ý gì đến việc người khác nhận xét gì về mình: “Những khi lên lớp thỉng thoảng gặp những trục trặc nhưng tôi chỉ thấy buồn lúc đó. Sau đó ba mươi phút là tôi quên hết. Tôi là một kẻ dẫu có muốn lo xa cái gì cũng không được. Hầu như tôi không để ý gì đến những thất bại trong giờ giảng của tôi đã ảnh hưởng thế nào đối với học sinh, hay đã làm cho ông hiệu trưởng và ông hiệu phó có nhận xét thế nào về mình.” [34, tr.56] nhưng thực chất anh ta rất để ý khi nhược điểm của mình bị phơi ra trước mặt mọi người: chi tiết bà Kiyô nói việc anh ta đái dầm ngày còn nhỏ trước mặt một người xa lạ như cháu bà Kiyô nhưng cậu ấm luôn suy nghĩ không biết anh ta nghĩ gì về mình. Nhân vật cậu ấm bề ngoài
39
tưởng như có những suy nghĩ mâu thuẫn, bị phê bình vì tự tiện bỏ trực trường đi tắm suối nước nóng anh ta chấp nhận vì thấy rằng như vậy đúng là vi phạm nội quy. Anh ta vốn bỏ ngoài tai lời răn đe và cả sự từ mặt của gia đình để thỏa mãn sở thích của mình nhưng lại bấm bụng từ bỏ sở thích ăn uống chỉ vì bị đồng nghiệp phê bình cười nhạo, cho rằng những tiệm mỳ, tiệm bánh bao là những nơi không nên lui tới, tổn hại đến địa vị cao quý của một giáo viên. Rõ ràng, một người nóng nảy, xem trời bằng vung như cậu ấm cũng kiêng nể tiếng nói của số đông.
Khảo sát những tác phẩm giai đoạn đầu của Soseki, chúng tôi nhận thấy ông ám ảnh bởi hình ảnh của những thám tử, đây có thể là hệ quả từ sự dè chừng dư luận xã hội, “thám tử”
gây cảm giác không an toàn cho những nhân vật cá nhân của Soseki: “Tôi cảm thấy tất cả bọn học sinh trong trường đều là thám tử, chuyên môn theo dõi chỉ riêng có một mình tôi.
Tôi thấy não cả ruột. Tôi không phải loại người vì bị học sinh nói này nói nọ mà từ bỏ những ý định hay những việc mình đã định làm. Nhưng cứ nghĩ là sao mình lại đi đến cái nơi khốn khổ, khỉ ho cò gáy, toàn một lũ ếch ngồi đáy giếng này, thì tôi lại thấy ngán ngẩm trong lòng.” [34, tr.65] Cậu ấm đã nói lên nỗi lòng u uất này khi mọi chuyện của mình đều được học sinh biết hết, rút kinh nghiệm từ lần đi ăn mì gặp học sinh, cậu ấm cẩn thận hơn khi ăn bánh bao gần xóm kỹ nữ dù chắc ăn rằng mình đã không gặp học sinh nhưng hôm sau lên lớp vẫn thấy dòng chữ “Hai dĩa bánh bao 7 xu”. Trong tác phẩm Tôi là con mèo, Soseki đã dành hẳn chủ đề con người cá nhân để các trí thức nhàn rỗi bình luận và hình ảnh
“thám tử” được ông giải thích rõ ràng hơn:
“Những chữ như ‘ung dung” ‘thanh thản’ chỉ còn xác chữ chứ không còn nghĩa nữa, về điểm này con người thời nay mang tính chất ‘thám tử’. Mang tính chất kẻ trộm nữa. Thám tử là kẻ chuyên rình mò sơ hở của người khác để được việc cho mình, cho nên nếu không nhận thức cao về cá nhân mình thì không thể làm được. Kẻ trộm thì cũng luôn luôn không thoát khỏi nỗi ám ảnh liệu có bị phát giác, bị bắt không, nên cũng phải có ý thức cao về cá nhân. Con người ngày nay, khi ngủ, khi thức đều vắt óc suy nghĩ xem cái gì là lợi, cái gì là thiệt cho bản thân mình, nên cũng phải nâng cao ý thức về cá nhân, không thua kém thám tử hay kẻ trộm được. Suốt ngày đêm 24 trên 24 tiếng đồng hồ, lúc nào cũng lấm la lấm lét, thì thà thì thụt cho đến tận lúc xuống mồ cũng không được một phút giây thanh thản. Đó chính là tâm trạng những con người thời nay. Đó là sự trù úm, nguyền rủa của văn minh đấy.
Thật điên rồ!” [38, tr.547]
40
Không ai khác mà chính ông giáo Kushami là người đúc kết ra kinh nghiệm này, bởi ông bị người khác theo sát một cách công khai. Những lời ông giáo nói, những hành động của ông ta, những ai đến nhà ông ta đều được hàng xóm tường thuật vanh vách. Đó là người hàng xe hám lợi, nghe lời nhà tư sản Kaneda để ý ông giáo Kushami-cái gai trong mắt của ông ta. Bị kẻ khác rình mò là nguyên nhân gây nên chứng u uất của ông giáo, bị rình mò khiến con người cảm thấy mất tự do. Nhưng người rình mò lại thỏa mãn được nhu cầu cá nhân của mình: thỏa mãn sự tò mò và nắm bắt người khác trong tầm tay. Soseki đặc biệt căm ghét cảnh sát ông cho rằng họ cũng là những kẻ tọc mạch người khác, hình ảnh thám tử là hình ảnh thường thấy trong những tiểu thuyết giai đoạn đầu của Soseki. Hình ảnh này cùng không gian tù túng cho thấy hình tượng con người cá nhân phần nhiều không tự tin vào bản thân mình, luôn lo sợ, u uất. Đối với Soseki bị soi mói về con người cá nhân là điều kinh khủng nhất. Dưới ngòi bút của ông, xã hội thời Minh Trị đã đào tạo nên những con người mang tính chất thám tử, chuyên rình mò người khác.
Những nhân vật của Soseki rơi vào tình huống “tiến thoái lưỡng nan”, họ cần phải hòa nhập vào không khí xã hội đang văn minh hóa từng ngày, nhưng lại cảm thấy không thể thích ứng được bầu không khí đó. Đứng lại, hay cư xử khác đi, họ trở thành đối tượng bị chê bai, bình phẩm. Kết lại thành sự u uất, cảm giác bơ vơ. Nỗi niềm này được phát triển xuyên suốt trong nền văn học Nhật Bản hiện đại, trở thành tình cảnh “thất lạc giữa cõi người”.