• 検索結果がありません。

Sự đổi thay vận-mạng của một dân-tộc quốc-gia, đã đành trƣớc hết phải nhờ có bọn đƣơng quyền khôn ngoan sáng suốt và bọn chí-sĩ thức-thời làm hƣớng-đạo tiên-phong, nhƣng cũng phải nhờ nơi dân-tâm dân-khí có biết hăm-hở tấn-hóa tự cƣờng mới đƣợc. Đó là hai sự cần dùng cho cuộc tấn-hóa, phải nƣơng dựa lấy nhau và cùng đi với nhau. Nếu có bọn đƣơng-quyền và chí-sĩ sốt-sắng cải-cách song bị phần đông ngƣời ta còn quá ngu-si thủ-cựu, tự họ không muốn khôn, muốn mạnh, hay là họ tƣởng mình đã khôn lắm mạnh lắm rồi, nhƣ vậy thì việc quốc-gia lợi-ích, khó lòng trông mong thi-thố thành-tựu gì đƣợc. Trái lại nếu chí-sĩ có, dân-tâm có, nhƣng vô phƣớc mà bị đám ngƣời cầm quyền là lũ đầu óc ngu dại, cứ ngồi lỳ trên cao, lấy quyền to sức mạnh của chúng để đè ép cản trở ý muốn tấn-hóa của dân, thì việc quốc-gia đại-kế cũng không trông mong gì làm nổi. Dân tộc nào gặp cảnh ngộ thế ấy, kết quả đố khỏi hoặc là trong nƣớc nổi lên một phen cách-mạng đổ máu gớm ghê, hoặc là bị mất nƣớc với ngƣời ta, nếu không cũng bị lợi dụng và yếu hèn mãi ; chắc ai cũng ngó thấy nhiều quốc-gia bị lôi kéo đắm chìm vào trong cảnh dƣới đó - cảnh vong quốc - nhiều hơn. Nhựt-bổn đã có dân khá, lại không bị quan ngu, thành ra họ tấn-hóa tự-cƣờng đƣợc là phải lắm.

Tuy ban đầu Mạc-phủ nhứt định chủ-trƣơng khai-quốc mà dân-tâm xôn-xao phản-đối

; chẳng qua chỉ là sự hiểu lầm chốc lát đó thôi ; tới chừng có mấy hiệp súng ở Lộc-nhi-đảo (鹿児島 - Kogoshima) và Hạ-quan (下関 -Shimono Seki) thì cả nƣớc tỉnh-ngộ nhƣ chớp nháng và mạnh bạo thay đổi tƣ-tƣởng ngay. Chớ không cố-chấp. Bao nhiêu tâm-lực trƣớc kia để vào chủ-nghĩa “tỏa-quốc nhƣơng-di”, (**), nay dồn cả về một mục đích “văn-minh cải-cách”, vậy rồi nền duy-tân dựng lên.

ĐỨC-XUYÊN MẠC-PHỦ DÂNG TRẢ CHÁNH-QUYỀN

Sau khi các nƣớc ra oai bắn phá thành-trì của hai cƣờng phiên Tát Trƣởng rồi, thì cái tƣ tƣởng “tỏa-quốc nhƣơng-di” của bọn thủ-cựu khắp trong nƣớc đều theo lằn khói thần-công đại-bác của ngoại-nhơn mà tiêu tan đi liền. Cuộc biến đổi tƣ-tƣởng nầy phát khởi từ cuối năm 1864, chính lúc Hạ-quan vừa mới bị đoàn tàu bốn nƣớc hiệp lại ra oai bắn phá, làm cho đảng “nhƣơng-di” giựt mình hoảng vía, biết ngoại-nhơn có sức mạnh ghê, nƣớc mình không sao chống cự nỗi ; chống cự thì chỉ hiểm nguy thiệt hại cho mình.

Trông ngƣời rồi ngẫm lại ta mà cảm ! Chẳng những ngƣời Nhựt đã tỉnh-ngộ không nên “tỏa-quốc nhƣơng-di” mà thôi, đồng thời họ lại tỉnh-ngộ về chỗ sanh tử tồn vong của họ, tất nhiên phải tấn-hóa duy-tân cho bằng những kẻ đã tới bắt buộc họ mở cửa thông-thƣơng và đã giơ súng ra hăm dọa nọ kia mới đƣợc. Giờ họ xoay ra cái tƣ-tƣởng “đảo Mạc tôn Vƣơng - 倒幕尊王 - ?”, để làm cơ-sở cho cuộc duy-tân cải-cách.

Năm 1866, tƣớng-quân Đức-Xuyên Gia-mậu qua đời. Đức-xuyên Khánh-Hỉ (徳川慶喜 - Tokugawa Yoshinobu) vô ngồi Mạc-phủ để nối nghiệp nhà, cầm quyền nƣớc.

Qua năm sau 1867, Hiếu-minh Thiên-hoàng ( 孝明天皇 - Koumei Tennou) thăng-hà, thái tử mới có 15 tuổi, lãnh ba món truyền-quốc thần-khí 2500 năm mà lên nối ngôi báu. Tân quân lên kế-vị năm 1867, qua năm sau - 1868 - đổi niên-hiệu là Minh-Trị nguyên-niên, ấy là Minh-Trị Thiên-Hoàng (明治天皇 - Meiji Tennou). Viết tới đây, tôi chợt nhớ lại câu thơ truyền tụng của Corneille : “Giá cao chẳng đợi tuổi già mới nên”

(La valeur n‟attend pas le nombre des années), thật đúng hết sức. Vua Minh-trị lên ngôi tuy còn nhỏ tuổi mặc lòng, nhƣng đã có tài cao trí lớn, chính ngài ra tay cải cách duy tân, mở ra kỷ-nguyên mới cho nƣớc Nhựt, đƣa nƣớc Nhựt lên cõi phú-cƣờng hạnh-phƣớc vậy.

Trong khoảng ba bốn năm đang nói đây, nhơn-tâm quốc-luận hăm hở kêu gào chủ-nghĩa "đảo Mạc tôn Vƣơng" dữ lắm. Ai cũng bảo chế-độ phong-kiến trên 680 năm nay là chế-độ Mạc-phủ cầm quyền, bây giờ phải đến ngày kết-thúc rồi. Ở đời nầy mà

trong nƣớc Nhựt-bổn còn có hai chánh-phủ : Một nơi chỉ giữ lấy danh-phận hƣ không, một nơi thì nắm trọn thực-quyền chánh-trị, khiến cho phép tắc chánh lịnh tách ra hai ngã, thể-thống quốc-gia coi chẳng ra sao. Hồi nƣớc nhà còn khóa cửa sống riêng một mình, tuy không hại gì cho công việc quốc-gia, chớ một mai đây khai-quốc tự-tân, thì việc bang-giao tất phải lấy danh-nghĩa Thiên-hoàng để tỏ ra với liệt-quốc mới đƣợc.

Có hai chánh-phủ cùng đứng trong một xứ, lấy danh-nghĩa mà nói, là sự trái ngƣợc không thể nào dung. Vậy nay muốn lo quốc-gia đại-kế thì trƣớc hết Mạc-phủ nên đem chánh-quyền dâng nạp lại trào-đình, và xóa bỏ cái chế-độ phong-kiến bảy trăm năm nay đi, để Thiên-hoàng chủ-trƣơng, quốc-gia thống nhứt, có vậy thì việc lớn mới có thể kết quả thành-công đƣợc.

Ban đầu, do những nhà chí-sĩ có thành-danh kiến-thức đứng lên hô hào xƣớng-xuất chủ-nghĩa “tôn Vƣơng đảo Mạc”, sau có nhiều ông chúa phiên ( 藩主, cũng tức là chƣ-hầu) hùng-cƣờng trong nƣớc nghe lấy làm phải, bèn ra sức tán thành. Tháng 4 năm 1867, trào đình vời các chúa phiên về kinh, nhóm hội chƣ-hầu, để hỏi ý kiến về quốc-sự, thì mấy ông chúa phiên thế lực đều tâu nên bãi Mạc-phủ. Rồi đó mấy ông sai sứ tới khuyên tƣớng-quân Khánh-Hỉ dâng nạp quyền chánh về Thiên-hoàng.

Khánh-Hỉ là bực anh hùng quyết đoán, yêu nƣớc kính vua, tự trong bổn-tâm đã có chí muốn bỏ ngôi tƣớng-quân của mình lâu rồi, song còn sợ giữa lúc quốc-bộ gian nan mà mình bỏ chức thì trên vua dƣới dân cho là mình trốn lánh trách-nhiệm chăng ; nay thấy dân-tâm sôi nổi, quốc-sự dập dồn, tất phải có cái quyền tôn-nghiêm thống-trị của đức Thiên-hoàng mới có thể sửa sang đại-cuộc, lo việc duy-tân đƣợc. Bởi vậy khi nghe lời khuyên rất phải, thì Khánh-Hỉ vui mừng nhận theo liền. Rồi đó Khánh-Hỉ viết biểu dâng lên trào-đình, lời lẽ rất trung thành thống thiết, xin nạp lại quyền-chánh về Thiên-hoàng ; tự mình lui về ở ẩn tại Tỉnh-cƣơng, nhƣ là một tên dân thƣờng vậy.

Ấy là việc ngày 14 tháng 10 năm 1867.

Thử hỏi thế-gian có mấy ngƣời ở ngôi cao chức trọng, có oai lớn quyền to, biết vì quốc gia đại-kế mà bỗng chốc lui bƣớc từ ngôi đƣợc một cách thái-nhiên quân-tử nhƣ Đức-Xuyên Khánh-Hỉ ( 徳川慶喜- Tokugawa Yoshinobu) vậy không ? Nghĩ lại có lắm quốc-gia đến lúc ngửa nghiêng hầu mất, mà bọn quyền-thần ngu dại, quan trƣởng hƣ hèn, còn ngồi lỳ bám chặt lấy cái danh-vị hƣ-vinh của chúng, không để cho những ngƣời có tài đức thế vào, có lẽ cứu chữa đƣợc cơn nguy cuộc rối ; than ôi ! Quốc-gia nguy vong mà bọn ngu hèn cố vị tham quyền, thật là đáng giận, đáng bỉ !

Khánh-Hỉ trả quyền lui bƣớc, thế là cái gia-nghiệp tƣớng-quân của họ Đức-Xuyên trải 250 năm đến đây hạ màn, mà cả cái chế-độ Mạc-phủ ở Nhựt-bổn dựng lên từ cuối thế kỷ 12 đến đây cũng chung cuộc.

Từ đó, toàn-quốc về đức Thiên-hoàng thống trị, chánh-phủ mới thành-lập, kỷ-nguyên mới bắt đầu.

Nhơn nói về chung cuộc Mạc-phủ, tƣởng nên xét qua ảnh-hƣởng luôn thể, cho tiếp câu chuyện, rồi sẽ trở lại công cuộc Minh-Trị duy-tân.

Một cái chánh thể lâu đời bền gốc, có quan-hệ thâm thiết với lịch sử, với chủng-tộc, với quốc-gia, nhƣ là Mạc-phủ ở nƣớc Nhựt, nay bỗng dƣng xóa bỏ đi, mặc dầu

Khánh-Hỉ tƣớng-quân là bực quân-tử cao-nhơn, tự mình vui vẻ ngôi phú quí nhứt đời nhƣ là thảy chiếc giày hƣ vớ rách đi nữa, nhƣng bề nào việc đó cũng là một việc đại-biến, không có lẽ nào không có ảnh-hƣởng tới thế-đạo nhơn-tâm và quốc-gia chánh-trị ít nhiều. Chắc hẳn trong trí Khánh-Hỉ (Yoshinobu) tƣởng ai cũng kính vua, yêu nƣớc và có độ-lƣợng quân-tử nhƣ mình, cho nên khi thấy sự mình thối vị là sự chánh-đáng cần kíp, thì vội vàng dâng biểu phụng-hoàn đại-chánh rồi thì xuống đai tìm chỗ đi ẩn ngay, chẳng có liệu trƣớc tƣơng-lai và sắp đặt hậu-sự gì cả, vì đó mà xảy ra có nội loạn rắc rối một hồi.

Bấy giờ trong nƣớc chia ra làm hai phái đông tây, một phái tôn Vua, một phái phò Mạc, xung đột nhau để dành lại quyền-thế. Phái phò Mạc là một số chƣ-hầu ở miền đông, không muốn khai-quốc duy-tân, vả lại có mang ơn Mạc-phủ đã phong hầu chia đất cho, ngoài ra còn 8 muôn tƣớng-sĩ là gia-thần bộ-hạ của Mạc-phủ, bấy lâu họ chịu ơn cơm áo tƣớng-quân, tự nhiên họ phải dốc-lòng trung-thành ủng-hộ tƣớng-quân đến cùng. Sau lúc Khánh-Hỉ bỏ ngôi lui bƣớc rồi, thì cả bọn chƣ-hầu và tƣớng-sĩ phò Mạc nổi lên làm loạn ở nhiều nơi, nhứt là ở Quan-đông ( 関東 - Kanto), Áo-võ - 奥?(**), và Sƣơng-quán (箱館 -?), ra mặt chống cự với trào-đình. Ban đầu loạn-đảng ép Khánh-Hỉ trở về Giang-hộ một lúc để dựng Mạc-phủ lại nhƣ cũ, nhƣng Khánh-Hỉ không chịu. Công sứ Pháp-quốc muốn lấy binh-lực giúp cho Khánh-Hỉ thâu hồi đại-vị, Khánh-Hỉ cũng không nghe, chỉ khăng khăng giữ vững cái chí tôn Vua trả quyền, và lại ăn năn việc mình sơ sót ban đầu khiến nên có loạn. Song, loạn-đảng không có bao nhiêu ngƣời và chí-hƣớng của họ cũng trái nghịch với nhơn-tâm thời-thế, thành ra không có thực-lực gì. Binh trào-đình chỉ mất công đánh dẹp có hơn một năm, từ 17 tháng giêng 1868 tới 27 tháng sáu 1869, thắng luôn bốn trận, thế là bình-định đƣợc nội-loạn, càng tôn thêm oai quyền của trào-đình.

Hồi đó Khánh-Hỉ vẫn ở yên tại Tỉnh-cƣơng, lấy thú gảy đờn xem sách làm vui, trải 30 năm mới dời về Đông-kinh ; đến năm 1902, tức là năm Minh-Trị 35, đức Thiên-hoàng triệu vô bệ-kiến và phong cho Công-tƣớc. Hình nhƣ lối 1910 hay 1911, Khánh-Hỉ mới qua đời. (5)

Ngƣời Nhựt đối với Khánh-Hỉ rất tôn kính nhớ thƣơng, vì cái cử-chỉ cao-minh quân-tử của Khánh-Hỉ đã từ bỏ quyền-hành, phụng-hoàn đại-chánh, kể ra cũng là ngƣời có

công với lịch-sử duy-tân của nƣớc Nhật vậy. Nếu nhƣ lúc đó Khánh-Hỉ không chịu kết-thúc Mạc-phủ, thì nhơn-tâm không khỏi chia lìa, quốc-thế chẳng chịu ảnh-hƣởng, chẳng những là cuộc duy-tân e chậm trễ khó khăn, mà lại còn sợ có một phen cách-mạng biến động gớm ghê, không tránh khỏi đƣợc.

NĂM LỜI THỀ VỚI TRỜI ĐẤT THÁNH THẦN

Minh-Trị Thiên-hoàng lên kế vị ngày 14 tháng 2 năm 1867, đến ngày 14 tháng 10 năm đó, tƣớng-quân Khánh-Hỉ dâng biểu xin trả lại Thiên-hoàng tất cả đại-chánh quốc-gia, để ngài thống nhứt toàn quốc, thực hành duy-tân. Trong tờ biểu có câu nói nhƣ vầy, tỏ ra tấc lòng Khánh-Hỉ yêu nƣớc kính vua rất là thành-thiệt :

“Hiện nay việc ngoại-giao càng ngày bề bộn khó khăn, trừ phi quyền chánh trào đình tóm thâu “về một đƣờng, thì mối giềng phép tắc khó lòng mà dựng lên đƣợc.

Hạ-thần trộm nghĩ ngày nay tất phải sửa hẳn lệ xƣa đi, đem chánh-quyền dâng lại trào đình, rộng cho quốc-dân cạn lời công-nghị, và muôn việc đều trông Thánh-thƣợng xem xét quyết đoán, rồi cả nƣớc đồng lòng hiệp sức, cùng nhau bảo hộ hoàng-quốc, nhƣ thế thì nƣớc nhà có thể tấn tới ngang hàng với vạn-bang trong thế giới đặng.

Khánh-Hỉ tôi tận trung hy-vọng cho quốc-gia chỉ có một việc đó.”

Trào-đình chuẩn y lời tâu, liền ra tờ đại-hiệu-lịnh, bá-cáo trong nƣớc về việc vƣơng-chánh phục-cổ (王政復古 - quyền vua trở lại nhƣ xƣa), tóm tắt lời cốt yếu nhƣ sau nầy :

“Đức-xuyên Mạc-phủ tâu xin trả lại quyền chánh của trào-đình đã giao phó cho từ xƣa nay.

“Trào-đình y theo lời tâu đó. “Vậy từ nay trở đi, chức nhiếp-quan (1) cùng là Mạc-phủ đều bỏ dứt hẳn. Bây giờ trào-đình “trƣớc hết tạm đặt ra 3 chức Tổng tài, Nghị-định và Tham-dự để trông coi liệu định các việc, lấy cái tôn-chỉ của đức Thần-võ lập-quốc ngày xƣa làm gốc. Không kể là thế-tộc võ-biền, kẻ trên ngƣời dƣới, phàm là quốc-dân, thì ai nấy đều phải đồng lòng ra sức lo tính việc chung.” “Trào-đình khuyên hết thảy dân-chúng từ đây đều nên gắng gổ tự tân, rửa cho sạch những cái thói hƣ tật xấu, đem lòng sốt sắng tận trung, đặng làm việc công, giúp nhà nƣớc v.v…” Ấy là mấy lời đầu hết của Minh-trị Thiên-hoàng ra hiệu-lịnh duy-tân vậy.

*

Một nƣớc ôm giữ những phép xƣa thói cũ từ mấy ngàn năm, ngày nay bỗng chốc thay đổi sửa sang nhứt thiết, cho hạp thời-thế và kịp tây-phƣơng, thật là một việc quan-hệ

lớn lao hết sức. Muốn bày tỏ chỗ quan-hệ đó ra, và muốn cho dân biết những cái tôn-chỉ duy-tân ra thế nào, nên chi tháng 3 năm 1868, Minh-Trị Thiên-hoàng bèn dẫn hết thảy trào-thần văn võ, cùng là các bực phiêu-chúa chƣ-hầu (lúc nầy cũng đang còn chƣ-hầu, hai năm sau mới bãi hẵn) làm lễ rất nghiêm trang long trọng, tế-cáo trời đất tổ tiên, đọc lời thề gồm có 5 khoản :

1* - Mở ra hội-nghị rộng rãi, trăm công ngàn việc đều lấy theo công-luận mà quyết-định ;

2* - Trên dƣới một lòng, ra sức sửa sang việc nƣớc ;

3* - Văn võ một đƣờng, từ công-khanh đến thứ dân, đều đƣợc toại chí, khiến cho lòng ngƣời hăm hở sốt sắng.

4* - Thảy bỏ hết những thói hƣ mối tệ chất chứa lâu đời, từ đây gắng gổ duy-tân tự-cƣờng, hiệp theo công-đạo của trời đất.

5* - Cầu trí-thức ở thế-giới, làm cho nƣớc nhà trở nên mạnh lớn vẻ vang.

Rồi thề sao làm vậy, 5 lời thề nầy chính là chí-nguyện, quy-mô và chánh-sách của vua Minh-trị sửa sang thay đổi nƣớc Nhựt, trƣớc sau có chừng 30 năm, là trở nên một quốc-gia văn-minh, một dân-tộc hùng-cƣờng, đứng ngang hàng với các nƣớc Âu Mỹ.

Vua Minh-trị là ngƣời sáng tạo ra nƣớc Nhựt mới vậy.

*

ĐẠI-KHÁI CÔNG CUỘC PHÁ CŨ ĐỔI MỚI TRONG 30 NĂM

Công-cuộc Nhựt-bổn duy-tân vừa mau chóng mạnh bạo, vừa vĩ-đại hoàn toàn, y nhƣ lời Minh-trị Thiên-hoàng đã thề với trời đất thần minh, khi đã dốc lòng ra tay biến hóa cải-lƣơng, thì mỗi việc gì cũng biến hóa cải-lƣơng hết thảy. Từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dƣới, nào là chánh-trị giáo-dục, nào là văn-hóa võ-bị, nào là công-thƣơng, lý-tài, nào là cơ-khí, nghệ-thuật, cho đến những chuyện y-phục tầm thƣờng, tập-quán lặt vặt, chẳng sót một vấn-đề nào hay một phƣơng-diện nào mà không hóa xƣa theo nay, đổi cũ ra mới. Có thể ví dụ nhƣ một cái vƣờn có ngàn gốc cây mọt hƣ khô héo, ngƣời Nhựt là lão làm vƣờn, đã đào từng gốc cây đó liệng đi, mà trồng cây khác mới lạ tƣơi tốt thế vào. Cách ít lâu, cái cảnh nhánh khô lá rụng, tiều tụy thê luơng của miếng vƣờn kia đều biến đi đâu hết, giờ ta ngó thấy toàn là cây lạ bông thơm, có muốn tìm lại những dấu-tích xƣa cũng không còn nữa. Thiệt, Nhựt-bổn trừ-cựu canh-tân tới vậy lận !

Dƣới đây có nhiều việc quan-hệ sẽ nói riêng hẳn từng nơi, nhƣng ngay bây giờ thiết tƣởng cũng nên tóm thâu cái đại-quan cho biết công-cuộc biến-hóa của nƣớc Nhựt vừa mau chóng mạnh bạo, vừa vĩ-đại hoàn toàn ra thế nào ? Sau khi vua Minh-trị hạ chiếu duy-tân rồi, thì nƣớc Nhựt cũ bị xô một cái, là đổ ụp xuống. Về mặt chánh-trị, ngay năm Minh-trị thứ nhứt, đã bãi Mạc-phủ rồi, còn chƣ-hầu tuy chƣa bãi, nhƣng chẳng qua họ chỉ còn danh-nghĩa vậy thôi, chớ thực-quyền nhƣ trƣớc không có nữa.

Trào-đình vời các chúa-phiên về kinh làm mấy chức Nghị-định - 議定 (**) và Tham-dự - 参与(**) ; lại cho mỗi đất phiên lựa chọn đôi ba ngƣời có tài về trào làm Cống-sĩ ( 貢士 - ?) tức là một chức quan nghị-sự. Những ngƣời nầy hiệp lại thành nhƣ một hội-nghị để phò tá nhà vua trong việc quốc-chánh. Ban đầu, nhà vua làm nhƣ thế, là cách huấn luyện và sắp đặt cho dân sau nầy có nghị-viện cả dân công cử nhƣ ở các nƣớc.

Đến năm Minh-trị thứ 4 (1871), chế-độ phong-kiến bãi hẳn : Các chúa-phiên (les Daimios(?)) đem hết đất nƣớc của mình nạp lại trào đình, đổi ra làm huyện. Tới năm Minh-trị thứ 23 (1890) mới có Hiến-pháp ban hành và có Chúng-nghị-viện ( 衆議院 - Shugiin)mở ra từ đó.

Về mặt bình-dân, xƣa kia họ là hạng ngƣời lao-khổ, ở dƣới quí-tộc và sĩ-tộc, tới năm 1867, lịnh duy-tân tuyên bố hết thảy nhơn-dân bình-đẳng ; ruộng đất để tự-do, ngƣời nông-dân bây giờ làm chủ ruộng mình, không phải chỉ nhƣ khi xƣa họ nai lƣng cày cấy làm mọi cho chúa-phiên, cho quý-tộc.

Các cửa biển đều mở tung ra cho ngoại-nhơn ra vô buôn bán tự do, Trải 1000 năm, Thiên-hoàng vẫn đóng đô ở thành Kinh-đô ( 京都 - Kyoto), giờ vua Minh-Trị dời đô về Đông-kinh ( 東京 - Tokyo) tức là thành Giang-hộ của Mạc-phủ Đức-Xuyên trƣớc.

Cả âm-lịch và trào-đình y-quan cũng bỏ cũ theo mới.

Tóm lại chỉ trong ít tháng, bao nhiêu dấu cũ lệ xƣa của Nhựt-bổn biến tiêu đi hết, nhƣờng chỗ cho những cách tây phép mới thay vô.

Sự thay cũ đổi mới của Nhựt-bổn mau lẹ quá chừng, ai cũng phải kinh-hoàng sửng-sốt.

Mỗi việc nhỏ lớn gì cũng phải tạo lập ra mới mẻ hết thảy, thế mà mỗi việc nhỏ lớn gì họ cũng tạo lập ra đủ hết. Không sót cái hay nào của Tây-phƣơng mà Nhựt không bắt chƣớc ; không có cơ quan chế độ nào hữu ích của Tây-phƣơng mà Nhựt không làm theo. Xe lửa, tàu thủy, nhà băng, xƣởng máy, cùng là mọi việc giáo-dục, công-nghệ, khoa-học v.v… thứ nào Nhựt-bổn cũng tổ-chức ra có đủ hết thảy trong một lúc.

Ta thử xem một vài con số nhƣ dƣới đây, sẽ biết ngƣời Nhựt họ chạy phăng-phăng trên con đƣờng duy-tân mau lẹ ra thế nào ?

関連したドキュメント