• 検索結果がありません。

Các tác giả thời thơ Man.yô thành hình, xác định được vị trí:

ドキュメント内 Nhap Mon Manyoshu_ch1_3 (ページ 108-170)

1-Thơ Ôtomo no Tabito. 2- Thơ Yamanoue Okura . 3- Thơ Yamabe no Akahito. 4- Thơ Takahashi Mushimaro. 5- Thơ hoàng tử Shiki. 6- Thơ bà Ôtomo no Sakanoue no Iratsume.

Tiết I : Thơ Ôtomo no Tabito大伴旅人大伴旅人大伴旅人大伴旅人:

Ôtomo no Tabito là con trai nối dõi chức Dainagon19 tên Ôtomo Yasumaro tức quan Dainagon Saho. Sinh trong một gia đình danh gia vọng tộc, ông cũng làm đến chức Dainagon tùng nhị phẩm như cha và mất năm 67 tuổi.

Lúc đó, thế lực của họ Fujiwara lên như diều trong khi cánh nhà Ôtomo bắt đầu suy thoái. Tuy nhiên, dù không còn giữ được quá khứ huy hoàng, hoạn lộ của Tabito cũng thong dong và cuộc sống nói chung không đến đổi nào. Tính tình ông lại khoan hòa và khoát đạt nên nhiều người yêu mến. Về vai trò của nhà thơ trong thời Man.yô thì ta có đặt ông vào giai đoạn thứ 3 nghĩa là có những hoạt động thi ca từ khoảng đầu đời Nara (710 trở đi) cho đến niên hiệu Tempyô (729-749).

Giỏi Hán văn, chuyên chú dùi mài Hán thi, hiểu sâu về văn hóa nhà Đường và nhuốm màu tư tưởng Lão Trang, Tabito, cũng như Yamanoue no Okura, thuộc loại thi nhân tiến bộ nghĩa là có khuynh hướng chấp nhận ảnh hưởng đến từ nước ngoài. Về mặt cá nhân, ông lại giao du thân thiết với Okura. Lúc ông làm nguyên súy ở phủ Dazai (Tổng trấn đảo Kyuushuu) thì Okura làm quan trấn thủ vùng Chikuzen cũng ở trên đảo, thường xướng họa với nhau và hai ông là hai nhà thơ chủ chốt của làng thơ Tsukushi (tên cổ để chỉ đảo Kyuushuu, bao gồm hai vùng Chikuzen và Chikugo).

Tabito để lại 76 bài trong Man.yôshuu, phần lớn theo thể tanka với lối diễn tả bình dị và nhịp điệu nhẹ nhàng. Về mặt tư tưởng Phật giáo tìm thấy nơi ông, đó là lòng mong muốn hạnh phúc trong một cõi đời sau lâu dài sau khi đã cố công sống lương thiện để tích đức trong cuộc sống hiện tại. Về mặt tư tưởng Lão Trang thì ông chủ trương cái kiếp hiện tại quá ngắn ngủi nên hãy cố sống sao cho vui thỏa trong từng sát na. Qua bài thơ ca tụng rượu (6 trong 13 bài gọi là tán tửu ca) sau đây, ta thấy bộc lộ chủ nghĩa hiện thực Lão Trang nơi ông:

3-338

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

19 Dainagon là một chức quan văn cao, được tham dự vào quốc chính, cỡ bộ trưởng, thứ trưởng trong chính phủ.

験無 験無 験無

験無 物乎不念者物乎不念者物乎不念者 物乎不念者 一坏乃一坏乃一坏乃 一坏乃 濁酒乎濁酒乎濁酒乎濁酒乎 可飲有良師可飲有良師可飲有良師可飲有良師 Dạng huấn độc (đã chua âm):

験なきものを思はずは一杯の濁れる酒を飲むべくあるらし 験なきものを思はずは一杯の濁れる酒を飲むべくあるらし 験なきものを思はずは一杯の濁れる酒を飲むべくあるらし 験なきものを思はずは一杯の濁れる酒を飲むべくあるらし Phiên âm:

Shirushi naki / mono wo omowazu wa / hitotsuki no / nigoreru sake wo / nomubeku aru rashi /

Diễn ý:

Nghĩ đi nghĩ lại mới hiểu rằng cần chi phải khổ tâm nhọc sức vì chuyện đời chẳng đáng vào đâu. Ngược lại, nâng một chén rượu đục để uống cho tan nỗi buồn phiền có phải là điều đáng làm hơn không.

Tạm dịch thơ:

Suy đi rồi tính lại / Khổ tâm chi chuyện đời / (Lo lắng mãi cho lắm / Cũng đến thế mà thôi) / Thà nâng vò rượu đục / Một ngụm vạn sầu vơi.

Rõ ràng là tư tưởng hưởng lạc. Dù đó chỉ là rượu đục (trọc tửu / bạch tửu) – rượu của con nhà nghèo - chứ chưa được lọc cho trong (thanh tửu). Điều này nhấn mạnh lòng yêu thích rượu của ông.

3-339

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

酒名乎 酒名乎 酒名乎

酒名乎 聖跡負師聖跡負師聖跡負師 聖跡負師 古昔古昔古昔 古昔 大聖之大聖之大聖之大聖之 言乃宜左言乃宜左言乃宜左 言乃宜左 Dạng huấn độc (đã chua âm):

酒の名を聖と負ほせしいにしへの大き聖の言の宣しさ 酒の名を聖と負ほせしいにしへの大き聖の言の宣しさ 酒の名を聖と負ほせしいにしへの大き聖の言の宣しさ 酒の名を聖と負ほせしいにしへの大き聖の言の宣しさ Phiên âm:

Sake no na wo / hijiri to ohoseshi / inishie no / ohokihijiri no / koto no yoroshisa Diễn ý;

Ngày xưa người nước Ngụy (Trung Quốc) dùng chữ “thánh nhân” (hijiri trong Nhật ngữ) như tiếng lóng để ám chỉ rượu. Các vị đại thánh nhân ngày xưa còn đặt cho rượu cái tên như vậy, há chẳng phải là lời nói tốt lành hay sao!

Tạm dịch thơ:

Ngày xưa rượu đã được / Mang tên là thánh nhân / Bao hiền tài đời trước / Còn phải chịu nhường phần / Há chẳng cho ta hiểu / Rượu quí giá vô ngần.

Tương truyền Thái Tổ nhà Ngụy ban lệnh cấm rượu trên toàn quốc nhưng trong thiên hạ, người ta vẫn uống lén và dùng tiếng lóng gọi bạch tửu là hiền giả và thanh tửu là thánh nhân. Do đó, Tabito muốn đùa rằng người đặt tên cho thánh nhân hiền giả phải xứng đáng là đại thánh nhân! Qua bài thơ, ông đã chứng tỏ sự hiểu biết về điển cố Trung Quốc của mình.

3-341

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

賢跡 賢跡 賢跡

賢跡 物言従者物言従者物言従者 物言従者 酒飲而酒飲而酒飲而酒飲而 酔哭為師酔哭為師酔哭為師酔哭為師 益有良之益有良之益有良之益有良之 Dạng huấn đọc (đã chua âm):

賢しみと物言ふよりは酒飲みて酔ひ泣きするしまさりたるらし 賢しみと物言ふよりは酒飲みて酔ひ泣きするしまさりたるらし 賢しみと物言ふよりは酒飲みて酔ひ泣きするしまさりたるらし 賢しみと物言ふよりは酒飲みて酔ひ泣きするしまさりたるらし Phiên âm:

Sakashimi to / mono ihu yori wa / sake no mite / yohinaki suru shi / masari taru rashi / Diễn ý:

Tranh nhau xem ai tài ai giỏi làm chi hỡi những kẻ ồn ào lắm chuyện. Ta đánh giá những ai chỉ uống rượu vào, say khướt, nói chuyện tầm phào rồi khóc, còn hơn hẳn các anh đấy.

Tạm dịch thơ:

Đừng khoe mình tài giỏi / Hỡi những kẻ ồn ào / Mấy anh chàng nát rượu / Nói toàn chuyện tầm phào / Uống say rồi lại khóc / Còn đáng nể là bao.

Tuy trong bài thơ Tabito tỏ ra khen ngợi khách làng say nhưng thực ra mà nói, chúng ta cảm thấy ngay qua vần thơ trên cả một nỗi buồn và sự bất mãn của tác giả hàm chứa bên trong đối với kiếp nhân sinh bất như ý.

Cũng như các nhà thơ Đường, tác giả thơ Man.yô gồm đủ mọi hạng người, mọi giai cấp trong xã hội. Từ vua đến quan, tăng đến tục, lính và vợ lính, gái làng chơi tới kẻ ăn xin.

Khi Tabito đến Dazaifu ở Kyuushuu nhậm chức thì trên bàn tiệc có Kojima, một người đàn bà hát rong (ukareme), đứng hầu rượu, giữa hai lần chuốc chén thì trổ tài đàn hát giúp vui chủ khách. Hình như cô ta được Tabito đặc biệt yêu dấu. Trong quyển só 6, hãy còn 2 bài thơ của cô ta.

3-343

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

中々尓 中々尓 中々尓

中々尓 人跡不有者人跡不有者人跡不有者 人跡不有者 酒壷二酒壷二酒壷二 酒壷二 成而師鴨成而師鴨成而師鴨成而師鴨 酒二染甞酒二染甞酒二染甞酒二染甞 Dạng huấn độc (đã chua âm):

なかなかに人とあらずは酒壷になりにてしかも酒に染みなむ なかなかに人とあらずは酒壷になりにてしかも酒に染みなむ なかなかに人とあらずは酒壷になりにてしかも酒に染みなむ なかなかに人とあらずは酒壷になりにてしかも酒に染みなむ

Phiên âm:

Nakanaka ni / hito to arazu wa / sakatsubo ni / narinite shikamo / sake ni shiminamu / Diễn ý:

Đừng sống kiếp người bị bó buộc, phải về hùa. Thà đem thân làm một bầu rượu vẫn hơn. Nếu như thế thì lúc nào cũng được chất rượu ủ vào người.

Tạm dịch thơ:

Đừng vâng vâng dạ dạ / Sống mà chịu buộc ràng / Thân thà như hồ rượu / (Còn sung sướng vô vàn) / Lúc nào mình cũng được / Hơi men ngấm tận xương.

Cách nói mạnh mẽ này không phải là một sáng kiến của Tabito. Câu ấy đã thấy trong Điệu Ngọc Tập, phần Thị Tửu Biên (Ghi chép về việc thích uống rượu) và chuyện cũng từng chép trong Ngô Thư, hai quyển sách của Trung Quốc. Chúng đều nói về một nhân vật tên Trịnh Tuyền, tự Văn Uyên, người quận Trần ở Trung Quốc, xưa nay vẫn thích rượu, chỉ ao ước khi chết được chôn trong bên cạnh một lò rượu để rồi vài trăm năm sau khi thân xác hoàn toàn tiêu tan thành cát bụi, cát bụi đó sẽ được dùng để chế ra vại đựng rượu. Mê rượu và lo xa như họ Trịnh kể ra cũng hiếm.

Ôtomo no Tabito (Nguồn Wikipedia)

3-344

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

痛醜 痛醜 痛醜

痛醜 賢良乎為跡賢良乎為跡賢良乎為跡 賢良乎為跡 酒不飲酒不飲酒不飲 酒不飲 人乎熟見人乎熟見人乎熟見人乎熟見 <<<< 者者者者 > > > > 猿二鴨似猿二鴨似猿二鴨似 猿二鴨似 Dạng huấn độc (đã chua âm):

あな醜賢しらをすと酒飲まぬ人をよく見ば猿にかも似む あな醜賢しらをすと酒飲まぬ人をよく見ば猿にかも似む あな醜賢しらをすと酒飲まぬ人をよく見ば猿にかも似む あな醜賢しらをすと酒飲まぬ人をよく見ば猿にかも似む Phiên âm:

Ana miniku / sakashira wo su to / sake nomanu / hito wo yoku mireba / saru ni kamo nimu /

Diễn ý:

Ôi chao, thật khó coi! Khi ngẫm nghĩ về sự phách lối của những kẻ khoe tài cậy giỏi mà không biết uống rượu, ta xem họ còn giống khỉ hơn người.

Tạm dịch thơ:

Ôi chao, thật khó coi / Nhìn những kẻ khoe tài / (Giỏi giang gì cũng mặc) / Rượu chẳng biết khuyên mời / (Dù mặt kia không đỏ) / Vẫn giống khỉ hơn người.

Thường thường những kẻ say sưa, uống rượu mặt đỏ ké mới được ví von với lũ khỉ. Thế nhưng ở đây Tabito cho rằng, không phải họ, chính ra những kẻ vênh váo khoe khoang mới thực sự giống đám khỉ khó coi. Người viết tiểu thuyết đời Edo là Tatebe Ayatari, trong Nishiyama Monogatari (Truyện núi Tây, 1768), viết ra để chống đối nhà văn Ueda Akinari, lại đi ngược đường với Tabito mà chê trách kẻ say sưa là bọn khỉ. Tuy Tatebe muốn đem gậy ông đập lưng ông nhưng đây là chuyện xảy ra nhiều thế kỷ về sau và dĩ nhiên, không thể lọt đến tai Tabito.

3-348

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

今代尓之今代尓之

今代尓之今代尓之 樂有者樂有者樂有者樂有者 来生者来生者来生者 来生者 蟲尓鳥尓毛蟲尓鳥尓毛蟲尓鳥尓毛蟲尓鳥尓毛 吾羽成奈武吾羽成奈武吾羽成奈武吾羽成奈武 Dạng huấn độc (đã chua âm):

この世にし楽しくあらば来む世には虫に鳥にも我れはなりなむ この世にし楽しくあらば来む世には虫に鳥にも我れはなりなむ この世にし楽しくあらば来む世には虫に鳥にも我れはなりなむ この世にし楽しくあらば来む世には虫に鳥にも我れはなりなむ Phiên âm:

Kono yo ni shi / tanoshiku araba / komu yo ni wa / mushii ni tori ni mo / ware wa nari namu /

Diễn ý:

Nếu trong cuộc đời này được sống vui sống thỏa thì trong kiếp sau, cho dù có phải thành côn trùng, chim chóc gì chẳng nữa ta cũng không nề hà.

Tạm dịch thơ:

Nếu như cuộc đời này / Sống (với men) vui thỏa / Thì trong những kiếp sau / Dẫu hóa thành vật lạ / Chim chóc hay côn trùng / Thân này đâu có sá.

Trong đầu ông, đã thấy có ý tưởng phủ định Phật giáo khi nói rằng chỉ muốn sống cho thỏa (với men rượu) kiếp này thôi. Thời ông sống là đời Thiên hoàng Shômu (Thánh Vũ) , một người chỉ xin làm đầy tớ cho tam bảo Phật Pháp Tăng mà ông dám phát biểu tư tưởng hưởng lạc trong cuộc đời hiện tại như thế, mới thấy hồi đó tự do ngôn luận cũng khá rộng rãi!

Suốt 13 bài “tán tửu ca”, đâu cũng nhuốm màu sắc Lão Trang hay tư tưởng thần tiên.

Việc sống sao cho hạnh phúc trong cuộc đời ngắn ngủi này chi phối tư tưởng của ông.

Có lẽ ông suy nghĩ nhiều về cảnh ngộ cá nhân, cảnh ngộ gia đình Ôtomo đứng trước sự lộng hành chuyên chế của cánh quyền thần Fujiwara. Ngoài 60 tuổi (thời xưa, sáu mươi tuổi phải coi như bảy tám mươi rồi) mà còn phải đi phó nhậm chức ở súy phủ Dazai trên đảo Kyuushuu (Tsukushi) xa xôi. Trên đường đi gặp thêm cảnh vợ chết, làm gì Tabito không khỏi xúc động trước cảnh vô thường tịch liêu của kiếp người. Do đó ta hiểu tại sao ông đi tìm sự khuây khỏa trong men rượu.

Như thế, có thể xem Ôtomo no Tabito (665-731) là một nhân vật trung gian dù không xuất thân ở đại lục nhưng dã biết nối tiếp được truyền thống thơ rượu của Lưu Linh (trong Tửu Đức Tụng) và nhóm Trúc Lâm thất hiền đời Ngụy Tấn (thế kỷ thứ 3), lại đi trước những Lý Bạch (701-762), Đỗ Phủ (712-770), những nhà thơ cũng biết lấy men rượu để tìm nguồn cảm hứng. Rượu đã đành là chất độc nhưng đồng thời cũng là thứ thuốc trị bệnh tâm thần vậy!

Như đã trình bày, đặc điểm của thơ thời Man.yô là cũng như thơ Đường, các tác giả xuất thân từ mọi tầng lớp trong xã hội. Họ có thể là vua quan, vợ lính thú, tăng ni, gái hát dạo hay ăn mày…Trong thời Tabito trấn nhậm ở phủ Dazai, có một cô hầu rượu vốn là gái hát dạo (ukareme, chữ Hán viết là du nữ hay phù nữ với nghĩa trôi dạt) trên Kojima, vốn được ông yêu dấu. Trong quyển thứ 6 có hai bài tanka cô làm ra. Dạo đó là tháng 11 năm Tenpyô thứ 2 (730), quan nguyên súy phủ Dazai là Ôtomo no Tabito được thăng Dainagon và sang tháng 12, phải về kinh nhậm chức. Lúc đó ông đã ở nhiệm sở hơn 4 năm. Ông coi vùng Tsukushi này như quê hương thứ hai rồi. Đây cũng là nơi vợ ông yên giấc nghìn thu.

Chung quanh ông lúc đó có các bạn đồng liêu như Yamanoue no Okura chẳng hạn. Ông đã từng cùng với họ làm tiệc thưởng hoa, thăm đền miếu, dạo chơi sông hồ và làm thơ xướng họa. Vùng đất xa xôi này sở dĩ có được cuộc sống văn hóa phong phú là nhờ ở Tabito cả.

Khi sắp sửa rời thành Mizuki (Thủy Thành, thành do Thiên hoàng Tenji đắp để đề

phòng quân giặc đến từ đại lục) lên ngựa hồi kinh, ông quay đầu nhìn lại đoàn người đưa tiễn, trong đám quan viên và thuộc hạ đó, có cô gái hát dạo Kojima. Bên bờ thành, giữa những cơn gió rét một ngày cuối năm, cô đã ngâm những vần sau đây:

6-965

Nguyên văn (dạng Manyô.gana)

凡有者 凡有者 凡有者

凡有者 左毛右毛将為乎左毛右毛将為乎左毛右毛将為乎 左毛右毛将為乎 恐跡恐跡恐跡恐跡 振痛袖乎振痛袖乎振痛袖乎 振痛袖乎 忍而有香聞忍而有香聞忍而有香聞 忍而有香聞 Dạng huấn độc (đã chua âm):

おほならばかもかもせむを畏みと振りたき袖を忍びてあるかも おほならばかもかもせむを畏みと振りたき袖を忍びてあるかも おほならばかもかもせむを畏みと振りたき袖を忍びてあるかも おほならばかもかもせむを畏みと振りたき袖を忍びてあるかも Phiên âm:

Ohonaraba / kamokamo semu wo / kashikomi to / furitaki sode wo / shinobite aru kamo /

Diễn ý:

Nếu như tướng công chỉ là kẻ thứ dân thì thiếp có thể lên tiếng chào hỏi đàng hoàng và tiễn chân ngài lên đường một cách bình thường. Thiếp muốn như vậy mà nào có làm được đâu. Tướng công là bậc tôn quí nên thiếp phải ngại ngùng, đến đỗi không dám phất tay áo để chào từ giã ngài. Biết thân phận mình, thiếp đành nhẫn nhục.

Tạm dịch thơ:

Phải chi là thường dân / Trong giây phút tiễn chân / Thiếp còn vẫy tay chào / Để tỏ lòng quyến luyến / Nhưng thân ngài cao sang / Thiếp đành cam câm nín.

Khi qua Dainagon lên đường, tất cả các vị quan lớn quan nhỏ ở phủ Dazai đều kéo nhau đi đưa. Người con gái hát kia không dám có một hành động gì qua lộ liễu để xúc phạm đến oai danh của quan đại thần dù nàng biết chuyến đi này sẽ là cuộc chia tay vĩnh viễn bởi vì ngày xưa đường đất khó khăn, tin tức không thông và quan đại thần tuổi đã cao.

Tuy là thân con gái hát rong nhưng nếu được một vị đại thần cũng là văn nhân tao nhã đến từ kinh đô tuyển dụng, nhất định nàng phải là người có văn hóa chứ không thể là cô đào rượu tầm thường. Thái độ câm nín, biết kìm hãm tình cảm ấy làm ta có thể hiểu được nhân cách của nàng.

Tuy nhiên, nàng có giữ mãi được sự nhẫn nhục ấy mãi được không? Thay câu trả lời, Kojima đã để lại bài tanka thứ hai như sau:

6-966:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

ドキュメント内 Nhap Mon Manyoshu_ch1_3 (ページ 108-170)

関連したドキュメント